TÔI HIỂU THƠ NHƯ THẾ NÀO

CÂU CHUYỆN CHỮ NGHĨA VỚI NGHĨA CHỮ

(Nhân đọc bài "Tán Tự" của Sa Vi) 



MỸ TỬU là "rượu đẹp" ?

            Sự dằn vặt của Sa Vi v́ chữ Mỹ Tửu đă khiến tôi chú ư. Nếu "Mỹ tửu" là rượu ngon, th́ "Mỹ"ơ ắt phải có nghĩa là "ngon" (v́ "tửu" là "rượu" th́ gần như chắc chắn rồi). Nhưng, chữ "Mỹ" lại không có nghĩa nào là "ngon" cả. Như vậy, nói theo nghĩa chữ, th́ Mỹ Tửu không thể là rượu ngon. Mỹ là đẹp, nên Mỹ Tửu, nghĩa chữ, là "rượu đẹp". Bây giờ ta có thể từ cái nghĩa chữ ấy mà giải ra thành "rượu ngon", điều ấy tùy ư. Đó là chuyện chữ nghĩa. Chữ nghĩa cứ tùy hỷ, miễn vừa ư là được. Nghĩa chữ th́ phải chính xác, v́ là một khoa học.

CHỮ NGHĨA VÀ NGHĨA CHỮ :

            Nhiều người đi thẳng vào chữ nghĩa mà quên nghĩa chữ. Tùy hỷ ! Nhưng có chút bất tiện là phá đi cái nền tảng trên ấy ḿnh xây dựng chữ nghĩa. Hiểu mỹ tửu là rượu ngon, mỹ vị là đồ ăn ngon, là lăng phí mất cái ư nghĩa v́ sao người Tàu họ dùng chữ Mỹ trong những trường hợp ấy. Nếu quả thực họ muốn nói "ngon" th́ tại sao không bảo "ngon" cho nó gọn mà lại nói "đẹp" ? Nói "đẹp" chính là v́ thấy đẹp mà tưởng tượng rằng ngon. Cái đẹp là cảm giác đầu tiên, khiến cho thèm ăn, thèm uống. C̣n ngon th́ chỉ là tưởng tượng. Anh chàng thích rượu trong Lương Châu Từ mới chỉ "dục ẩm" (muốn uống), chứ đă uống đâu mà bảo rằng rượu ngon ? Quả quyết anh ta lên ngựa rồi, tiếng đàn "tâm lư chiến" của em gái hậu phương vẫn c̣n trổi lên để "dục" anh uống nữa là hiểu chữ "dục" theo kiểu Đại Nam ta (dục dă), trong khi chữ ấy ở đây có nghĩa là "muốn". Mà mới chỉ "muốn uống" chứ chưa uống th́ có say rượu nằm ngoài "sa trường" được không ? Giả sử Sa Vi trả lời là "được", cũng chẳng sao. Tùy hỷ ! Chữ nghĩa là chuyện đùa chơi mà ! "Hỷ" chẳng phải là "vui" đấy sao ?

CHUYỆN G̀ XẢY RA SAU KHI CHẾT ?

            Vậy, để cầu vui, xin kể vài câu chuyện "nghĩa chữ", gọi là đùa chơi chút đỉnh :

            Có anh bệnh nhân của tôi nghĩ rằng ḿnh sắp chết, và dơng dạc tuyên bố : "chết là hết, sau khi chết không có ǵ cả !" Nói theo ngôn ngữ của thổ dân ở đây là : "il n'y a rien après la mort". Tôi bảo ông ta : "coi chừng cái chữ RIEN mà ông sử dụng đó, nó đến từ chữ Latin RES, tức là CÁI G̀ đấy ! Nói như ông, il n'y a rien après la mort, tức là CÓ CÁI G̀ SAU KHI CHẾT". Thật vậy, RES là "chose", như Res Publica (cho ra chữ république) có nghĩa là "la chose publique". Chữ Réel cũng đến từ căn RES. Ông bệnh nhân dùng chữ nghĩa, loại phổ thông, bịù vặn lại bằng nghĩa chữ, ngược hẳn lại với cái chữ nghĩa mà ông hiểu ! Kết quả là ông ta phật ư v́ cái viễn tượng "có ǵ sau khi chết", nên mấy năm qua rồi mà vẫn ... sống nhăn !

NGƯỜI CÔNG GIÁO NÊN THỜ ALLAH HAY THỜ DIEU ?

            Có anh nhà quê bảo "Allah" là Chúa giả, "Dieu" mới là Chúa thật. Lại chuyện chữ nghĩa. Tùy hỷ (biết rồi khổ lắm...)! Nhưng gặp lúc không có ǵ chơi, lôi nghĩa chữ ra vặn anh chơi, hỏi : "Dieu từ đâu ra ?" Sau nhiều ngày t́m ṭi khảo cứu : "th́ từ Deus, tiếng Latin, mà ra chứ ǵ !" Hỏi tiếp : "Deus từ đâu ra ?" Lại nhiều tháng t́m ṭi, rốt cuộc ... chịu thua ! Trả lời : "Deus đến từ Zeus"." Zeus là kư ǵ ?" Là ông thần mạnh nhất (không phải đâu tiên đâu đấy nhé), trong các vị thần của Thần Thoại Hy Lạp. C̣n Allah ? Allah đến từ Elie (và Elohim, số nhiều), là chữ chỉ Thiên Chúa trong Thánh Kinh. Nhiều cậu thờ Dieu v́ hiểu Dieu theo kiểu chữ nghĩa thông thường. Giả sử chịu khó đào sâu nghĩa chữ một tí th́ nhận thấy có lẽ phải thờ Allah mới đúng sách vở ! Hay là cứ di tản sang nước của những "người ngon" (Mỹ nhân), rồi thờ "God" đi cho tiện đường dư luận ? (Mà God từ đâu ra hè ?)

BÂY GIỜ THÁNG MẤY RỒI HỠI EM ?

            Con tôi mấy năm trước đi học, cô giáo dạy :"Septembre có nghĩa là tháng chín". Lạ ! Trong chữ Septembre rơ ràng là có chữ Sept là "bảy" mà làm sao lại là tháng chín ? Tương tự như thế, Octobre phải là tháng tám v́ Octo là tám, Novembre là tháng chín v́ Novem là chín, và decembre là tháng mười, v́ decem là mười...Thày cô cho các tṛ mượn chữ nghĩa (ra trường trả lại), chẳng cần bàn tới nghĩa chữ làm chi cho thêm mệt. Mỹ tửu, thày cô đương nhiên giảng là "rượu ngon", mỹ vị là "đồ ăn ngon", Mỹ nhân là "người ngon", cần ǵ phải rắc rối ?

CÁC ÔNG NGOẠI T̀NH NÊN BIẾT NGHĨA CHỮ NÀY !

            Một câu chuyện nghe kể lại chứ không thuộc về "đại khối" (chữ "đại rởm" nhưng càng ngày càng "đại" thông dụng) kinh nghiệm cá nhân của người viết (t. s. c. c. đ. r. t. b. đứa nào xuyên tạc, tuyên truyền láo khoét !) : 

            Có anh học giả đẹp giai hào hoa phong nhă nọ đang "mở cuộc cờ người" với một nường dễ thương, bỗng dưng chị vợ (vâng, học giả đẹp giai hào hoa phong nhă nào cũng có vợ : con người không ai hoàn hảo !) xông vào, tuyên bố : "Je suis surpris !" Anh học giả (học giả ăn vụng vẫn là học giả), vội vàng cải chính : "Không đâu em ơi, anh mới bị surpris, c̣n em , th́ phải nói là étonnée mới đúng !". Tôi rất tiếc không biết đoạn tiếp (đă bảo đây không phải là kinh nghiệm cá nhân mà, t.s. c. c. đ. r. t. b. đứa nào...) để kể hầu bạn đọc. 

ĐÀN BÀ ĐẺ ? ĐI T̀M ANH ĐỨNG TRƯỚC !

            Giả sử nường dễ thương nọ, hết "gió thoảng ngoài" xong lại đến "xầm xập như trời đổ mưa", thành ra nhiễm cảm, ngoại tà nhập nội, kết thành một khối "học giả con" nơi hạ đơn điền (coi bài về khí công của chị Huệ), càng ngày càng chướng ra, mới vội vă đi t́m thày hay trị liệu. Thày bảo : đến "cái thằng đứng trước" nó lo cho ! Kỳ dzậy ? Th́ căn "ob" là "trước", "sta" là "đứng" (căn Ấn Âu), cho nên obstétricien nghĩa chữ là "người đứng phía trước" (để đỡ em bé ra đó mà ! c̣n muốn biết đứng trước cái ǵ th́ phải hỏi anh Bát Sách). Thế Medecin là ǵ ? Là anh ba phải. Medecin đến từ căn Ấn Âu "Med-", nghĩa là chừng mực, nhưng lại gần với "Medhyo", "Madhya", là ở giũa (kinh Phật Madhyamira là Trung Quán Luận). Có thể giảng là người truyền bá sự chừng mực, vừa phải, hay cũng có thể là anh chàng ba phải, đứng giữa, tự gọi là Trung Dung cho sang trọng...

BON APPETIT ?

            Sa Vi khôi hài rằng bon appétit phải dịch rằng "ăn ngoan", "ăn tốt". Appétit chắc chắn không phải là "ăn". Appetere, appetitus, tiếng latin là thèm muốn, đến từ căn Ấn Âu "pete-" là vồ lấy, hay xông tới. Appétit là khả năng thèm ăn. Khi nào khả năng ấy hoạt động "tốt", th́ bọn "anh đi dzền" ở đây nó bảo là "bon appétit". 

TÁN LÀ G̀ ?

            Sa Vi "tán" rằng "tán là nghiền nhỏ ra, đập cho dẹp lép", hàm ư trách tôi lôi bài Lương Châu Từ ra nghiền nát, rồi nhào nặn lại chẳng c̣n h́nh thù ǵ nữa, tức là "nói hưu, nói vượn, tán dóc". Thật ra chữ "tán" trong Hán tự chẵng bao giờ có nghĩa là "nghiền nhỏ ra" cả ! Tán là giúp, cổ xúy, phụ họa, khen ngợi, và chỉ dẫn (tán lễ). Sa Vi lấy hai chữ Tán Tự làm tựa, mà lại hiểu sai chữ "tán", thật đáng tiếc. Tuy nhiên, điều ông trách tôi có thể đúng, xin phân giải ở phần kế tiếp :

TÔI HIỂU THƠ NHƯ THẾ NÀO ?

            Đối với tôi, khi đọc thơ th́ vấn đề "hiểu đúng" hay "hiểu sai" không quan trọng. Điều quan trọng là bài thơ gợi lên được những cảm tưởng ǵ trong tâm hồn anh ? Nếu người làm thơ thật sự muốn nói lên những điều chính sác, muốn anh phải hiểu "cho đúng", th́ ông ta đă sử dụng thể văn xuôi, khai triển vấn đề một cách rơ ràng minh bạch, giải thích đâu vào đó, rằng th́ mà "nà" hẳn hoi. Chức năng của thơ không phải vậy. Thơ, đặc biệt là loại thơ súc tích như thơ Tứ Tuyệt, nhằm gợi lên những cảm xúc chủ quan nơi người đọc. Nói cách khác, những bài thơ loại này khơi động những "thảo tŕnh" cài sẵn trong tâm hồn anh, có khi đă bị anh quên mất từ lâu, bao gồm những âm thanh, h́nh ảnh, và tư tưởng triền miên... Khi viết về một bài thơ, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc những ǵ bài thơ ấy gợi lên nơi tôi, một cách thành thật. Nay, nếu lại v́ sợ oai "cụ" này hay "cụ" khác mà tôi phải nói khác đi với những ǵ tôi tâm tưởng qua bài thơ ấy, th́ hóa ra là tôi nói láo với bạn đọc của tôi hay sao ? Vả lại, nếu các "cụ" đă giảng giải về thơ đâu vào đó hết rồi, th́ hậu thế c̣n ai b́nh thơ mà làm ǵ nữa ? Ai muốn biết "phải" hiểu một bài thơ ra sao th́ cứ đọc "các cụ" là xong ! Và nếu thật như thế th́ tại sao, riêng tại hải ngoại này, hàng tuần trong báo chí Việt Ngữ, vẫn luôn có cả hàng chục tác giả cặm cụi dịch những bài thơ Đường ra tiếng Việt ? Nếu "các cụ" đă cho biết tất cả ư nghĩa của các bài thơ ấy rồi th́ các ngài "mắc" dịch kia c̣n xô những cánh cửa đă mở làm chi nữa ? Phải chăng chỉ để đua nhau đổi qua đổi lại chữ này vào với chữ khác, vận này sang vận kia, để rồi cũng vẫn đi đến cùng một ư nghĩa ? Hoài công quá chăng ? Hay nghĩ rằng c̣n có những khía cạnh các cụ "lột" chưa hết, ḿnh phải xông vào lột phụ một chuyến nữa xem sao ? Ôi ! nếu quả thật thế th́ với cái nền văn chương "mắc" dịch từ thời "các cụ" đến nay, nàng thơ c̣n ǵ để cho quư ngài lột nữa, quư ngài ơi ! (xin lưu ư "mắc" là muốn một cách mănh liệt, nói theo tiếng Nam Bộ, kháng chiến và không kháng chiến, có khi được người hùng phương bắc mượn tí, kiểu như : các anh có mắc các anh cũng vưỡn fải khắc phục, đó chính nà nập chường của đảng và nhân rân) .

TÔI LÀ MỘT KẺ LÀM THƠ...THẨN 

            Mặt khác, khi ta t́m đến một bài thơ, th́ điều ta muốn t́m trong bài thơ ấy nhất định không phải là điều mà tác giả muốn nói trong hoàn cảnh của ông, mà bao giờ cũng là điều mà ta muốn tác giả nói hộ ta trong hoàn cảnh của chính ta. Thí dụ : đang trực trong bệnh viện, tôi nhận một chú nhóc t́ mới 12 tuổi đầu mà đă biết nhậu nhẹt say mèm nằm ngay đơ cán quốc. Tôi sổ : "aux âmes bien nées, la valeur n'attend point la nombre des années" (Corneille). Khi đọc lên câu thơ ấy, tôi chỉ nghĩ đến bối cảnh hiện tại mà tôi đang sống, chứ có nghĩ chút nào đến bối cảnh trong đó Corneille đặt câu thơ của ông ta đâu ? Và tôi đă dùng một câu thơ đằng đằng sát khí, không khôi hài chút nào của Corneille, để nói lên một ư tưởng khôi hài trước một sự việc xảy ra trong cuộc đời của tôi. Tương tự như vậy, khi rầu rĩ ngâm : "tôi là một kẻ làm thơ thẩn, đi hỏi t́nh yêu giưa chợ đời..." (nhớ đại khái, không chắc đúng), th́ tôi chẳng cần biết cái tâm t́nh của anh thi sĩ tiền chiến kia khi làm câu thơ ấy nó ra làm sao, mà chỉ biết (rất rơ) cái t́nh cảm lâm ly thống thiết của riêng tôi, và mượn câu thơ này để diễn đạt nó. Tức là tôi bảo tác giả dùng thơ của ông để nói lên t́nh cảm của tôi, trong bối cảnh đời sống của tôi. 

BỐ CỤC THƠ ĐƯỜNG LUẬT :

            Sẵn bàn về cách hiểu thơ, xin điều chỉnh một ngộ nhận quan trọng, nhưng không phải là hiếm. Sa Vi cho rằng bố cục thơ Tứ Tuyệt gồm bốn câu : đề, thực, luận, kết. Không ǵ sai hơn. Hai lần sai.
Thứ nhất, tứ tuyệt là ngắt bốn câu trong tám câu của bài Đường Luật : hoặc ngắt bốn câu đầu, bốn câu cuối, bốn câu giữa, hay hai câu đầu hai câu cuối. Bố cục : đề, thực, luận, kết, là bố cục của bài Đường Luật (tám câu) chứ đâu phải là bố cục của bài Tứ Tuyệt, một dạng "cắt dán" của bài Đường Luật ? 

            Thứ nh́ , phân chia bài Đường Luật thành : đề, thực, luận, kết, là một phương pháp rất "đồng ấu" (lỗi của "các cụ" đấy !). Kim Thánh Thán nêu lên lối chia bài thơ ở thời ông, như sau : 2 câu khai, 2 câu thừa, 2 câu chuyển và 2 câu hợp, hay thâu. Không có "thực" mà chỉ có "thừa", chẳng có "luận" liếc chi cả, mà là "chuyển", và để chấm dứt, th́ "thâu" lại chứ chẳng bảo "kết" mà làm chi cho thêm ngớ ngẩn (ai chẳng biết hết bài th́ phải "kết", nhưng kết thế nào cơ chứ ?) . Thật ra Thánh Thán cũng không vừa ư với lối phân chia này. Ông ngắt bài Đường Luật thành hai đoạn : tiền giải, và hậu giải, bề ngoài có thể chẳng liên hệ ǵ với nhau (như một lô thơ mà ông đă "tán" trong đó có những bài nhiều người biết như Thu Hứng, Hoàng Hạc Lâu v.v...) nhưng có liên hệ về suy tưởng ẩn hàm bên trong. Tất cả phương pháp b́nh thơ của Thánh Thán đếu dựa trên cách nh́n tiền giải - hậu giải ấy.

THẮC MẮC

            Sa Vi thắc mắc làm sao tôi biết được nhân vật trong bài Lương Châu Từ là một chiến binh, trong khi ba câu đầu chẳng có ǵ nói đến chinh chiến cả ? Xin thưa : là nhờ câu thứ bốn. Bài tứ tuyệt có bốn câu... 
Nếu Sa Vi hay bạn đọc nào khác c̣n có điều chi thắc mắc về những bài tôi viết, đặc biệt là những bài b́nh luận văn chương, th́ tôi dù bận cũng xin sẽ cố gắng giải đáp, trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của tôi.

Nguyễn Hoài Vân
14 tháng 6 1996

Ghi thêm :

Chữ Pipa mà anh Bát sách thắc mắc, chỉ là phiên âm theo tiếng Quan Thoại của chữ Tỳ Bà mà thôi. Pi là Tỳ ấy mà ! Pi Wei = Tỳ vị , đúng nghề Gastro entérologue ! (Trong bài của tôi đánh máy sai là Ky Pa, xin bạn đọc thứ lỗi)

Bài về "hai bài thơ xuân của Đỗ Phủ" nhiều chỗ sai : ở đoạn đầu có chỗ thiếu gần cả câu, nhưng không quan trọng, phiền nhất là ở câu chót thiếu chữ "cánh" nên câu "cánh chim đổi sắc, đóa hoa biến màu" bị mất cân đối...

 

                            Trở về Mục Lục