CHUYỆN GIÀ CHUYỆN TRẺ
BÁC TRẦN VĂN ÂN VÀ TÔI




            Người ta thường quư sự Hiểu Biết. Hiểu Biết có Hiểu và Biết. Có kẻ hiểu nhiều Biết ít, kẻ khác Hiểu ít Biết nhiều, không mấy người Biết rộng mà Hiểu cũng sâu xứng đáng là bậc trí giả.

            Biết chỉ cần công phu lượm lặt, mở lớn tai mắt, thâu vào trí nhớ những sự việc ở đời. Ngược lại để Hiểu, tai mắt, trí nhớ không thôi chưa đủ, c̣n cần vận dụng, suy luận, thâm nhập chiều sâu của sự vật. Hiểu tới chỗ cực sâu, tức đạt đến bản thể của sự vật, ngoài trí thông minh, suy luận, có lẽ c̣n phải dùng nhiều đến trực giác, linh tính, đến “con mắt thứ ba”.

            Sự việc ở đời muôn vàn triệu, kẻ lượm lặt chăm chỉ cách mấy cũng chỉ Biết được một phần nhỏ, như giọt nước trong đại dương. Ngược lại, người Hiểu được phần nào chân tướng bản thể của sự vật có thể từ cái biết hạn chế suy rộng ra các việc khác. Nên sách vở có nói: “hiểu tường tận một hạt cát là hiểu được cả vũ trụ”, một phần lấy ư nghĩa đó. Muốn Hiểu một cách sâu xa lại rất cần một nguyên lư, một chỗ “nhất quán” lấy làm điểm tựa, để từ điểm ấy xét suy vạn hữu, ví như ngọn đèn trong đêm tối, chiếu đến đâu mọi vật liền sáng tỏ.

            Tôi khi nhỏ được người tu hành nuôi dạy, từ đọc, viết, lễ giáo thông thường cùng với căn bản đạo đức, đó là khai mở cái biết như hạt giống nẩy mầm. Rồi nhờ thân mẫu là người học cao, hàng ngày d́u dắt, chỉ bảo, lại cho gần giới khoa bảng, nên thường được nghe luận đàm, quen việc tranh biện, đó là cái biết phát triển, như cây mọc cành lá và sự hiểu cũng vừa bắt đầu như mới trổ vài nụ hoa. Đến khi xuất ngoại, đem cái sở học của gia đ́nh đă in sâu trong tim óc, đi vào xă hội Tây phương với trăm ngàn chuyện mới mẻ, nhiều lúc phải nhận là ḿnh vẫn thiếu một chỗ dựa chắc chắn. Chỗ dựa ấy, từ mười ba năm nay, tôi đă may mắn t́m được qua sự chỉ dạy thường xuyên của bác TRẦN VĂN ÂN. Nhờ đó hoa mới kết trái, trái mới chín mùi, gieo hạt xuống, nẩy nhiều mầm cây khác... 


*
* *


            Buổi trưa hôm ấy, chúng tôi đang trang hoàng Hội Quán Sinh Viên tại Beaulieu-Rennes để tổ chức Tết. Chợt thấy một cụ già tóc bạc trắng, dáng người thấp nhưng vững chăi bệ vệ, chống gậy thủng thẳng bước vào, theo sau có một cặp vợ chồng đứng tuổi. Tôi nhận ra bác Trần Văn Ân v́ đă được thấy bác khi ở Việt Nam trong một buổi nói chuyện của Hội Trí Thức Công Giáo, mẹ tôi dắt theo. Tôi lật đật đến chào. Bác giới thiệu ông Nguyễn Đ́nh Nhơn và phu nhân, mới tới thăm, bị bác kéo đi khích lệ anh em trẻ lo việc Hội Đoàn. Lúc ấy, bạn tôi, Nguyễn Anh Tuấn, vừa trương lên hàng chữ “Đón Mừng Xuân Mới”, bác thấy, đùa rằng: Tết ở Tây phương này c̣n nằm trong mùa đông, đă xuân đâu mà đón với mừng ? Tôi nghe lạ tai, nhưng cũng phải nhận là có lư, từ đó về sau luôn để ư không cho anh em “mừng xuân” giữa trời đông nữa. Những tháng ngày sau đó, trong khuôn khổ hoạt động Hội, tôi có gặp bác vài lần nữa, nhưng không khi nào có ư nghĩ t́m theo học hỏi. Chỉ câu chuyện xă giao rồi thôi. Tuy nhiên duyên nghiệp là cái không thể tránh khỏi, và một buổi tối, không biết nhân việc ǵ, tôi ghé nhà bác, rồi từ chuyện này đến chuyện nọ, bác bắt qua nói về...Spinoza. Ở trường, tôi đă được nghe giảng qua về Spinoza, nhưng cũng chỉ coi ông này như trăm ngàn triết gia khác. Tối hôm ấy, tôi khám phá ra một Spinoza rất đáng phục và đáng mến. Tôi muốn hỏi thêm th́ bác đă đổi đề tài, bàn sang thời cuộc, rồi nhắc lại những năm hoạt động tại Pháp cuối thập niên hai mươi, việc nước thời Pháp, thời Nhật, lúc ở Singapore với các ông Trần Trọng Kim và Dương Bá Trạc, chuyện Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Sâm, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, những bạn tranh đấu của bác nay đă đi vào lịch sử, và vài chuyện khác. Tôi nghe lấy làm thú vị và xin hẹn ngày khác, rồi ngày khác nữa, đến nghe nói chuyện. Chỉ một thời gian ngắn sau, gần như ngày nào cũng gặp bác.

            Bác thường đổi nhiều đề tài trong mỗi lần nói chuyện, mỗi đề tài chỉ nói vài câu khiến phải mất mấy tháng mới ghép được các mẫu chuyện để nắm tổng quát những vấn đề chính và từ đó theo dơi dễ dàng hơn. Khi nói đến một đề tài mà tôi chưa đủ kiến thức để lănh hội, bác lục t́m trong kho sách vô cùng dồi dào của bác, lấy ra một cuốn, cho về đọc. Đôi lúc chỉ dặn đọc một đoạn. Sách đầu tiên bác đưa là cuốn “ 150 câu hỏi-trả lời về chiến tranh ở Việt Nam“, thuật lại một số chuyến công du của bác tại Hoa Kỳ, Bắc Âu, Nhật Bản .... Các cuộc tranh luận với chính trị gia và kư giả ngoại quốc nói đến trong sách này là những chỉ dẫn quí giá cho người muốn dấn thân vào con đường đấu tranh cho nước nhà. Không phải một ḿnh tôi đă phải gật gù thán phục trước những phản ứng gọn gàng nhưng vô cùng tinh tế và hiệu quả của bác, mà nhiều người khác, t́nh cờ gặp, khi vừa nói tới bác, là họ nhắc ngay đến các giai thoại ứng đối ấy. Khi nghe chỉ trích chế độ Saigon thối nát, bác trả lời (đại ư) rằng : “tuy thối nát thật, nhưng từ đám x́nh, đám phân ấy c̣n có thể có một ngày kia mọc lên được cây tốt, nở hoa đẹp, trong khi cộng sản giả sử nếu có sạch se,ơ bất quá cũng v́ như phiến đá ngàn đời vẫn phằng ĺ không sinh khí, không hy vọng nẩy nở”. Khi bị hỏi v́ sao người như bác lại chịu hạ ḿnh làm việc cho “quân phiệt” ? bác hỏùi ngược lại “lật quân phiệt dễ hay lật cộng sản dễ ?”. Có kẻ cho là Miền Nam Việt Nam đă gây chiến xâm lăng Bắc Việt, bác chỉ trả lời (đại ư) “Không có quân đội Miền Nam ngoài Bắc, chỉ có quân đội Bắc Việt trong Nam, nội bấy nhiêu đủ biết ai xâm lăng ai ?” Tiếc rằng nạn bè phái trong chính quyền cũ đă khiến cho thành quả của những chuyến công du này hoàn toàn bị ém nhẹm, chỉ có báo chí ngoại quốc nói tới một cách thuận lợi, trong nước gần như mù tịt, và tệ hại hơn hết là bác không được phép tổ chức các chuyến đi tương tự nữa. Các phe phái thời ấy dèm pha cho là bác muốn tạo tên tuổi cho cá nhân ḿnh để trổi bật hơn họ... Cố công giúp nước với tâm huyết và khả năng, kinh nghiệm, nhưng lại chỉ có hai bàn tay trắng, việc ǵ cũng phải mượn thế lực, phương tiện người khác, phần nhiều kém hơn ḿnh , hoặc là những kẻ thiếu thành tâm, quả là khó (Bác Ân được ngoại quốc mời, chớ chưa hề được chánh quyền Viễt Nam gởi đi) !

            Khi bắt đầu bàn về Nho học, bác cho tôi đọc “Đại Học” do Linh Mục Bữu Dưỡng dịch và giảng, xong hỏi nghĩ sao? Tôi rất biết và mến cha Dưỡng, quen nhiều với gia đ́nh tôi (khi c̣n trẻ con, tôi gọi Ngài là "cha chân gỗ"). Tuy vậy tôi vẫn nghi sách của cha có tính cách khảo cứu, nh́n đạo Nho từ bên ngoài, khó tránh khỏi thiếu phần nào chiều sâu. Bác mới đưa bộ Khổng Học Đăng của cụ Phan Bội Châu. Vừa đọc sơ, tôi đă vội in chụp lại để giử làm tài liệu căn bản. Cụ Phan viết sách với tất cả tấm ḷng của một nhà Nho chân chính muốn tận t́nh truyền cái đạo sống của ḿnh cho hậu thế, kỷ lưỡng từng câu, thận trọng từng chữ, quả là những lời tâm phúc. Tiếp đó bác mới giảng về Vương Dương Minh và lại cho sách đọc. Gặp lúc tôi có dịp đi Mỹ nên ngồi máy bay nhiều thời giờ, đọc rất nhanh. Tôi say mê Dương Minh Học, coi là tột đỉnh của Đạo Nho, dù vẫn cho là khó thực nghiệm được. :”tri hành hợp nhất” của ông, có lẽ v́ không dễ đạt đến điều mà ông gọi là “trí lương tri”?

            Một hôm bác nói chuyện Lục Tổ Huệ Năng. Tôi nghe như một chấn động. Thật ra trong những điều bác nói, từ Nho, Dương Minh, Thiền Học v.v... tôi đều đă được nghe hay đọc qua lúc c̣n ở nhà. Nhưng lúc ấy tôi chỉ “biết” mà có lẽ chưa “hiểu” sâu nên đối với các việc này tôi dửng dưng coi như một mớ “kiến thức tổng quát” để bàn chơi, lúc trà dư tửu hậu, chứ không gây được một khích động nào trong tâm tư cả. Khi nghe bác nói lại, các học thuyết và nhân vật kia trở thành sống động với một sức lôi cuốn mănh liệt. Có lẽ như cụ Phan, bác không nói như một nhà học giả mà truyền lại những điều bác đă thực nghiệm được trong cuộc sống của chính bản thân ḿnh. Tôi nghe chuyện Lục Tổ như kẻ mù chợt thấy, phá bỏ những thành kiến vốn có đối với Phật Giáo, để từ đó, tự coi như một đệ tử hèn trước cửa Phật. Trong các kinh kệ bác chỉ giảng kỹ kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh và Kinh Kim Cương, c̣n lại chỉ nói qua, không chú tâm nhiều.

            Có một lúc, tôi từ Hoa Kỳ về, không có việc làm, nên ngồi lẩn mẩn đọc Chu Dịch và học Châm Cứu. Bác liền viết cho một mớ tài liệu về Dịch Lư, Âm Dương, Ngũ Hành, giúp tôi rất nhiều. Bác hay v́ anh em trẻ làm ra những tài liệu nhỏ đánh máy mươi mười lăm trang về những đề tài lịch sử, tư tưởng, văn chương hay chính trị cho chúng tôi đỡ mất công lục lọi t́m ṭi sách vở, lại được thêm sự giải thích, nhận định, gọn gàng và thực tế của bác.

            Tôi ngỏ ư muốn học chữ Hán. Bác nhờ mua được một mớ sách dạy con nít bên Hương Cảng gửi qua, đem ra dạy tôi và vài người bạn. Kiểu như: “ Hảo học sinh, tảo tảo khởi, bối liễu thư bao, thượng học khứ...” ( Học tṛ tốt, sớm sớm dậy, vác cặp sách đi lên trường). Các bạn bận nên từ từ bỏ học, chỉ c̣n tôi. Được ít lâu tôi xin bỏ lối học “đồng ấu”, thay vào đó lấy từng bài thơ hay áng văn nổi tiếng ra học từng chữ để vừa biết thêm ngữ vựng vừa học được một mớ thơ văn cổ. Bài đầu tiên lấy trong Tam Quốc bắt đầu bằng: “Nhất thiên phong tuyết phỏng hiền lương, bất ngộ không hồi ư cảm thương...” tả cảnh Lưu Bị đi thăm Khổng Minh không gặp cụt hứng trở về bị cơn băo tuyết. Sự học chữ Hán trở nên vô cùng lôi cuốn. Thật vậy, đọc “phượng hoàng đài thượng phượng hoàng du, phượng khứ đài không giang tự lưu” (đài phượng phượng hoàng đă tới chơi, phượng đi đài vắng nước c̣n trôi – bác dịch tại Côn đảo) hay “ Nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Chiều quạnh đâu là hương lư cũ, trên sông khói sóng năo ḷng này – bác dịch) quả thực có thú vị hơn là “hảo học sinh tao tảo khởi”. Tuy nhiên tôi phải mang thêm một cái ghiền mới là ghiền thơ Tàu. Ở lứa tuổi tôi, mắc bệnh này khó tránh được bị cười là lẩm cẩm. Đành vậy, ta sống kiểu già lúc trẻ, biết đâu sau này đễ quân b́nh lại,  trời chẳng cho được sống kiểu trẻ lúc già, tức cho trẻ lâu ?
            Tôi có một ”thắc mắc của tuổi thơ”. Đó là không hiểu chủ thuyết Marx đem bỏ phần duy vật chỉ giử phần “kinh tế” có c̣n là chủ thuyết Marx hay không ? Số là cách đây hơn chục năm có nhiều người Thiên Chúa Giáo rất thành thật gắn bó với tôn giáo của ḿnh nhưng lại theo chủ thuyết Marx. Tôi muốn biết thái độ này trên phương diện lư thuyết thuần túy có thể biện minh được không? Bác cho đọc “ Histoire de la Pensée Humaine” của Chevalier, đoạn nói về Marxisme. Tuy không có câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi trên nhưng cũng giúp thêm nhiều hiểu biết về Marx và Marxisme. Cũng lúc ấy, t́nh cờ có người mời bác đi dự Université d’été (Đại Học Hè) của đảng CDS (đảng của Tổng Thống Giscard d'Estaing) gần Rennes. Bác cho tôi theo, được nghe một bài thuyết tŕnh về “Marxisme et Néo-paganisme” rất bổ ích. Sau đó bác và tôi bàn tán nhiều tuần về Marxisme và bác cũng sẳn dịp viết một số tài liệu về vấn đề này. Điều buồn cười là ngày hôm nay những người cộng sản hay trí thức thiên tả công khai bầy tỏ sự nghi ngờ của họ đối với chủ nghĩa Marx, được dư luận ca ngợi là tiến bộ, là sáng suốt, trong khi họ chỉ lặp lại những ǵ người chống cộng vẫn nói từ mấy chục năm nay, và vẫn bị coi là bảo thủ, phản tiến bộ.

            Bác rất hay ca ngợi các nhà lănh tụ xă hội Pháp ở thuở ban đầu, thời SFIO (bác gọi là đám “sách dép dzô”). Bác luôn nhắc câu của lănh tụ Xă Hội Jean Jaurès : “Beaucoup d’internationalisme ramène à la partie” để bạn trẻ đỡ đi vào con đường quốc gia cực đoan. Về sự khác biệt căn bản giữa người xă hội chân chính và cộng sản đệ tam, bác hay nói lại câu của Léon Blum chất vấn phe CS đệ tam trong Congrès de Tours (1920) : “muốn lấy chính quyền để cải tạo xă hội hay dùng chiêu bài cải tạo xă hội để lấy chính quyền ?”. Vấn đề đấu tranh giành độc lập tại nước ta chung quy cũng không ra ngoài lập luận ấy.

            Bác rất lo lịch sử cận đại Việt Nam sẽ bị ghi lại một cách sai lạc. V́ thế luôn cố gắng ngày ngày biên chép những ǵ đă chứng kiến trong cuộc đời trên 60 năm hoạt động chính trị với câu tâm niệm luôn nhắc đến là “tư vô tà”. Bác cũng cho tôi thâu 14 cuộn băng nói chuyện về lịch sử cận đại và cho lưu giử một số tài liệu. Trong câu chuyện thường ngày bác cũng luôn nhắc đến các biến chuyển bác đă dự phần và các nhân vật nay đă thuộc về lịch sử từng là bạn hay đối phương của bác. Tôi tiếc nhiều lúc không sẳn máy thâu hay giấy bút để ghi lại cho chính xác và đầy đủ. Mong rằng bác đủ sức viết kỹ lại từng việc để khỏi mai một những dữ kiện quí giá cho người khảo cứu sau này. 

            Khi ch́m trong quá khứ, những nhân vật thường được bác nói tới nhất, là nhóm bạn cộng sản đệ tứ của bác, như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch ... Bác gợi lại những kỷ niệm với họ một cách rất cảm động. Bác coi họ như những nhà ái quốc thành tâm, và đồng thời cũng là người xă hội chân chính, như đă nói ở trên. Có lẽ họ đă đạt đến “Beaucoup d’internationalisme” như Jaurès từng nói, tức đă ư thức tới nơi tới chốn “học thuyết quốc tế” để trở về gần với tổ quốc ḿnh hơn. Những vấn đề liên quan đến nhóm đệ tứ Việt Nam đă được đề cập cặn kẽ trong một tài liệu riêng.

            Tôi cũng học rất nhiều nơi bác về lối hành văn chữ Pháp. Từ khi gặp bác, tất cả những ǵ tôi viết ra, dù trong khuôn khổ làm việc Hội Đoàn hay chuyện riêng tư (trừ thư t́nh) cũng đều đưa bác sửa và chỉ dẫn những chỗ sai lầm, cả h́nh thức lẫn nội dung. Pháp văn của bác học theo lối xưa, vô cùng kỹ lưỡng, đời nay khó mà b́ được. Tôi hay sơ ư để lỗi văn phạm. Lúc coi lại, con mắt 33 xuân xanh đọc măi mà không sửa hết, vẫn phải thỉnh tới cụ già 87 tuổi... Nhờ có con mắt thứ ba chăng ? 

            Bác vốn nổi tiếng là nhà hùng biện, và chắc cũng có tham vọng dạy lại cho tôi chút ít. Mỗi khi tôi có dịp lên diễn đàn, bác luôn đến chăm chú nghe. Ngược lại khi bác nói trước công chúng, cũng thường đem tôi theo. Sau đó đều có rút tỉa ưu khuyết điểm. Như gần đây, với tính cách Hội Trưởng Người Việt tại địa phương, tôi có vài lời với đồng bào và quan khách đến dự đêm Tết Kỷ Tỵ. Về nhà bác cho là nội dung tốt, nhưng giọng nói quá mạnh, không hơp với một đêm Tết, giá như là một cuộc mít tinh hay một buổi hội thảo chính trị th́ mới nên nói mạnh vậy. Lần sau phải khép nép nhỏ nhẹ, thưa cùng bà con cô bác...

            Khoảng 78-79, bác đặt vấn đề PHỤC VIỆT và lập nhóm Phục Việt. Cùng lúc ấy, tuy không hẹn mà đồng lượt phát khởi tại nhiều nơi khác những phong trào tương tự, như nhóm của Linh Mục Kim Định tại Hoa Kỳ. Các đoàn thể thời bấy giờ nói nhiều tới Phục Quốc, thiên về tổ chức đấu tranh vơ trang giành lại đất nước. Bác cho là nếu vài năm nữa không c̣n người Việt với tinh thần Việt, th́ giành nước lại cho ai ? Vă lại, muốn cho việc đấu tranh được lâu dài, quan trọng nhất là phải làm cho tim óc người Việt tại hải ngoại mang nặng tinh thần dân tộc, có thế họ mới hết ḷng thương nước, mới sẳn sàng hy sinh thời giờ tiền bạc và có khi hơn nữa cho quê hương. Tất cả những điều trên đều có vẻ đương nhiên, tuy vậy, vẫn cần một chương tŕnh hành động và một hệ thống tư tưởng, ít nhất là cho quảng đại quần chúng để công việc vừa có thể đạt nhiều thành quả mà vẫn không lọt vào cạm bẩy “tinh thần quốc gia cực đoan” vô cùng nguy hại. Đó là lư do phải lập ra những tổ chức và cơ quan ngôn luận lo việc Phục Việt. Thật ra Phục Việt bắt nguồn từ một suy luận sâu xa hơn việc giải quyết một nhu cầu giai đoạn rất nhiều. Phục Việt là hàn gắn lại sự đổ vỡ gây ra lúc dân tộc ta đụng chạm với văn minh Tây phương. Người Tây phương đă chiến thắng và cai trị cha anh ta đồng thời cũng đă làm lớp người đi trước ấy đă hoài nghi đến độ bỏ rơi phần nhiều truyền thống và sở học của tiền nhân ḿnh. Họ muốn “theo mới hoàn toàn theo mới” như tôn chỉ của nhóm văn sĩ nổi tiếng nọ. Theo mới, được ! Nhưng Tây học lắm trường nhiều phái, theo cái mới nào bây giờ ? Kết quả là kẻ học trường này, người theo phái nọ, chạy theo nhiều hướng khác nhau, Marxisme là một, trong khi nền tảng chung, tức truyền thống văn minh Đông Phương và Việt Nam đă bị phá bỏ, chỗ quay về là tinh thần dân tộc bị lăng quên, chất keo gắn liền người Việt với người Việt không c̣n nữa. Từ đó, đi đến anh em một nhà chia rẽ, chống báng, giết chóc nhau, chỉ một bước nhỏ. Phục Việt là chất keo hàn gắn lại sự tan vỡ này, là nối lại với gịng văn hiến của tổ tiên đă bị gián đoạn để dân tộc ta có thể hội nhập cái mới mà vẫn trau dồi bảo tồn việc cũ và để những con dân Việt đă tản mát theo nhiều phương hướng có một điểm tụ hội, một chỗ quay về như ư nghĩa câu “thù đồ đồng quy” bác đă đề ra lúc làm bộ trưởng Chiêu Hồi. Bác ít đề cập đến vấn đề Phục Việt theo kiểu này, v́ hơi khó, có chăng chỉ nói qua, chưa thấy viết rơ, nên tôi mới dám mạo muội dài ḍng một chút. 

            Người có đầu óc thường mắc phải một bệnh rất khó chữa; bệnh đề ra chủ thuyết hay tư tưởng mới. Phần nhiều là xô những cánh cửa đă mở hoặc luẩn quẩn tự giam ḿnh trong khuôn khổ chật hẹp của một cái “isme”, nguồn của sự cố chấp, cản trở mọi thăng tiến. Việc này đă được bác nói đến trong nhiều bài viết, rơ ràng nhất là trong “Hồn Nước”. V́ thế nếu có người cho là bác đă đề ra thuyết này thuyết nọ, có lẽ cần hiểu sâu hơn tính chất tương đối hay giai đoạn của những cái gọi là “thuyết” kia. Vả lại cứ nhất quyết cho rằng các lư thuyết, các chủ nghĩa là hư hăo, là cố chấp hết cả, tức là lại rơi vào một cố chấp khác, là “chấp cái không chấp” vậy... 

            Phạm vi bài này tuyệt đối không thể thuật lại nổi một phần trăm của mười ba năm trường nói chuyện với bác Trần Văn Ân. Tôi chỉ muốn để lại ít kỷ niệm bằng cách viết ra những ǵ nghĩ đến trong giây phút, không dàn bài, không sắp đặt, từ tim óc trải thẳng ra trang giấy, trong một thời gian hạn chế. Bây giờ, khi đặt bút viết những ḍng cuối, tôi không khỏi mong muốn được như thiền giả nọ, khi giác ngộ liền đến nói với thầy ḿnh là: “đạo của thầy thật ra chẳng có ǵ cả !”. Nói vậy có lẽ là ông đă ngộ cái tính không của sự vật. Ngộ không với không ngộ khác nhau một trời một vực. V́ thế nếu người thường có thể coi lời nói kia là bạc bẻo hay trách cứ, th́ ngược lại, kẻ thức giả phải nhận ra trong đó một sự biết ơn vô cùng. Quả vậy, người thày nghe câu này không giận, mà ngỏ ư hoan hỷ. Tôi cũng muốn được như Tăng Tử chỉ trả lời “dạ” khi Đức Khổng nói với ông : “Sâm hồ, ngô đạo nhứt dĩ quán chi”(Anh Sâm này, Đạo ta chỉ có một chuyện thôi là đủ bao quán hết cả) . Đức Khổâng không cần giải rơ “nhất quán” là ǵ? Thầy Tăng cũng chẳng phải hỏi lại, chỉ “dạ” . Nhưng đó là thầy tṛ bậc thánh, cái tôi hèn mọn ngày hôm nay chỉ hết ḷng ngưỡng mộ chứ nào dám nghĩ đă thâm nghiệm “nhứt quán”, ngộ “tính không”, hay đạt “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” ? Chỉ biết một điều giản dị là nhờ sự chỉ dẫn và gương sống của bác TRẦN VĂN ÂN đă thâu thập thêm nhiều kiến thức hữu ích, đă hiểu sâu hơn một số điều lư thú, nhất là nhận định được một cách thành thật, chứ không phải chỉ qua sáo ngữ, tính chất tương đối của mọi việc, để trong đời sống hàng ngày, có thể giảm thiểu nhu cầu, bớt phần nào chấp nhất, giải đôi chút lo phiền, vui với những chuyện b́nh dị, hy vọng đạt đến một tŕnh độ nào đó của sự tự tại ung dung mà anh em chúng tôi thường mến phục nơi bác./.

NGUYỄN HOÀI VÂN (1989)

Trở về Mục Lục