Gửi Cụ Hoàng Khoa Khôi

 

Xin cảm ơn bác đă gửi những tài liệu rất hữu ích. Hôm trước, v́ chỉ được đọc qua đoạn cuối của bài phỏng vấn mà bác đă dành cho anh Vũ Huy Quang, nên cháu đă có cảm tưởng những ư kiến của anh ta hơi phần nào lạc quan một cách ngây thơ (angélisme), như khi anh ta nói: (các nước trên thế giới ngày nay) “sẽ cùng phát triển, cùng tiến bộ, các khoảng cách tiền tiến hậu tiến rút lại…văn hoá kinh tế cùng phát triển với nhau…t́nh h́nh thế giới có thể lạc quan được…thời nay không c̣n nước lớn ỷ lớn bắt nạt nước nhỏ nữa…không c̣n giai cấp đấu tranh v́ chênh lệch điều kiện sống như cũ…” Quan điểm của cháu về phần lớn vấn đề này đă được viết ra trong bài “Trật tự thế giới mới”, đề ngày 16/5/1992, xin gửi bác đọc qua.

Về Dân Chủ


Những câu trả lời của bác gợi lên nhiều suy nghĩ. Khi bác nói: “chuyên chính dưới dạng dân chủ” ở phần I trang 14, cháu liên tưởng đến các tranh luận về “dân chủ h́nh thức”, về “technocratie”, về “médiacratie”, về sự hoang mang của giới trí thức trong việc định cho dân chủ một nội dung thực thụ, điều mà Alain Touraine cố làm trong sách mới của ông ta, tựa đề “Dân Chủ là ǵ?” Trí thức nước ḿnh có vẻ ít đào sâu vào đến nội dung của dân chủ, chỉ dừng lại ở h́nh thức, nên sẽ dễ rơi vào “dân chủ h́nh thức”.
Cháu đồng ư với bác về “dân chủ tập trung” (bác cũng có cho bài của Đặng Quang Uẩn về vấn đề này). Không có nền dân chủ nào không “tập trung” mà có thể quản lư được xă hội một cách tương đối ổn định cả. Đem dân chủ tập trung để đối nghịch với “dân chủ đa nguyên” là không đúng. Dân chủ “đa nguyên” trong sự áp dụng thực tế cũng bắt buộc phải “tập trung”. C̣n khái niệm “đa nguyên” th́ đă nằm sẵn trong chữ dân chủ rồi, không cần phải nói “dân chủ đa nguyên”.

Thời Kỳ Quá Độ


Được đọc về “thời kỳ quá độ”, có lẽ phải gọi là thời kỳ chuyển tiếp” (transition), cháu đă phải điều chỉnh lại những ấn tượng của ḿnh về khái niệm này. Cháu có được học là quan điểm chủ thuyết Marx về sự thay đổi trong xă hội có nhiều tương đồng với các định luật vật lư của “thermodynamique” (nhiệt động học). Theo đó, vật chất biến từ dạng này sang dạng khác (thí dụ từ dạng “cứng” sang dạng “lỏng” hay từ “lỏng” sang “hơi”), bằng cách “nhảy bậc”, nhảy từ “mức năng lượng” này sang “mức năng lượng” khác, khi sự thay đổi năng lượng vượt qua một “mức giới hạn” nhất định. V́ thế, cháu hiểu “thời kỳ quá độ” là “mức giới hạn”, qua đó một xă hội này biến thành một xă hội khác, như nước biến thành đá khi bị làm lạnh, và biến thành hơi khi bị hâm nóng…Sau này, cháu lại được học là trong lư thuyết xă hội chủ nghĩa những thập niên sau này có ba quan điểm về thời kỳ quá độ:


- quan điểm thứ nhất là có một thời kỳ “quá độ” rơ ràng, phân định sự chuyển biến từ xă hội này sang xă hội khác;
- quan điểm thứ hai là không có thời kỳ quá độ;
- quan điểm thứ ba là lúc nào cũng là thời kỳ quá độ.


Ba cách nh́n này có thể cho ra ba định nghĩa khác nhau về “xă hội chủ nghĩa”. Bác nghĩ sao?

Quần Chúng Đấu Tranh


Trong phần II, trang 9, bác trích dẫn Marx nói: “(nếu) quần chúng chưa giác ngộ, (th́) không thể làm cách mạng thay cho quần chúng”, đưa đến câu hỏi: “ở Việt Nam hiện nay quần chúng có sẵn sàng đấu tranh hay không? ” Cháu nghĩ là không. V́ sao? Có lẽ v́ một tâm lư tương đương với cái mà người ta gọi là “american dream” ở nước Mỹ. Các nhà xă hội học vẫn hay thắc mắc tại sao ở Mỹ không có phong trào đấu tranh giai cấp quy mô và có tổ chức như ở các nước Âu Châu chẳng hạn? Và người ta cho đó là v́ cái “american dream” : ai cũng nuôi giấc mơ làm giàu, kể cả những người rất nghèo (Mỹ được gọi là “vùng đất cơ hội”), nên ít có ư thức đấu tranh chống lại những giai cấp có quyền lực chiếm hữu. Ở nước ḿnh hiện nay cũng vậy, ai cũng có hy vọng làm giàu, ít ai muốn đấu tranh cho công bằng xă hội. Chỉ khi nào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, khi một số đủ lớn nhân dân thấy rơ là ḿnh không thể làm giàu được dưới sự cai trị của “tư bản đỏ”, th́ họ mới có ư thức sự bóc lột, ư thức bất công và mới đấu tranh. Chưa có khủng hoảng trầm trọng th́ số người sẵn sàng đấu tranh vẫn sẽ không đủ. Thí dụ chỉ khủng hoảng trong một thành phần dân chúng nào đó, hay một lănh vực kinh tế nào đó, hay một địa phương nào đó sẽ không đủ để phát động đấu tranh thật sự, v́ số nhân sự liên hệ quá ít, đấu tranh rời rạc, chỗ này nổi lên chỗ kia xẹp xuống, trong khi đại bộ phận dân chúng vẫn không sốt sắng tham gia (mặc dù có cảm t́nh). Nếu không có khủng hoảng kinh tế, các tôn giáo lớn có lẽ cũng không có khả năng phát động đấu tranh mạnh mẽ đủ để lật đổ nhà cầm quyền như nhiều người vẫn nghĩ, mặc dù có thể tranh thủ được vài nhượng bộ hạn chế. Mặt khác, chính quyền CS hiện nay hoàn toàn thống nhất với người dân trong cái hy vọng làm giàu vừa nói. Dù cho họ có tham nhũng, buôn lậu v.v…th́ một số lớn người dân cũng vẫn chấp nhận (cùng chung trí hướng làm giàu mà!), nếu đời sống vật chất nói chung có phần nào ngày một khá hơn, và nhất là nếu giấc mơ làm giàu của những người dân ấy luôn được nuôi dưỡng.
V́ thế, bất cứ lực lượng nào muốn tranh thủ chính quyền từ tay nhà cầm quyền VN hiện tại đều phải: hoặc là chờ khủng hoảng, hoặc là tạo khủng hoảng. Đương nhiên là lực lượng ấy đă phải có: lănh đạo, lư thuyết đấu tranh, nhân sự chuyên nghiệp (cán bộ), và tổ chức chặt chẽ (đảng). Nhà lư luận như bác nghĩ sao?


Trang 12, phần II, khi nhận định về tư bản đế quốc trong t́nh trạng Nga lúc cách mạng 1917, trong bản chất có lẽ cũng chẳng khác ǵ t́nh h́nh Việt Nam hiện nay. Các phe nhóm cầm quyền ở VN đă trở thành “tư bản đỏ”, cũng phụ thuộc nặng nề vào tư bản nước ngoài, trở lại lập luận của Lénine và Trotsky mà bác đă nêu ra.


Ở phần III, trang 9, bác cho là cuộc nổi dậy vào tháng 5 năm 1968 tại Pháp thất bại v́ thiếu lănh đạo được quần chúng tin cậy. Cháu nghĩ có lẽ cũng tại lúc ấy không có khủng hoảng kinh tế đủ tầm mức để có một quần chúng rộng răi tham gia đấu tranh. V́ thế, những người tham gia tích cực vào phong trào, chỉ phần lớn là sinh viên, trí thức, với những lập luận trừu tượng, chứ trong đời sống thực thụ của người dân, chưa có khủng hoảng rơ rệt nên họ ít tham gia đấu tranh. Các lănh tụ sinh viên, các trí thức lớn, như Sartre, cũng đă thất bại khi muốn vận động thợ thuyền nhập cuộc.

Vấn đề Giai Cấp


Về vấn đề giai cấp, trang 10, phần II, bác nêu lên khía cạnh khách quan của giai cấp, rất đúng. Quy tất cả vào giai cấp là sai lầm v́ chủ quan. Người ta có thể thuộc về hai giai cấp khác nhau, có những “lập trường giai cấp” riêng biệt khi bàn đến lương bổng, thuế khoá v.v…nhưng vẫn đồng ư với nhau trên nhiều lĩnh vực khác như bảo vệ môi sinh, giảm bớt vũ khí v.v… Mỗi người có thể có lập trường “tả phái” trong một vấn đề nào đó, và lập trường “hữu phái” trong một vấn đề khác. V́ thế, khó mà quy tất cả vào “đấu tranh giai cấp” được. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận những mặt khách quan không thể chối căi, của đấu tranh giai cấp. Ngày nay, có lẽ vấn đề giai cấp nặng nề nhất vẫn là nạn thất nghiệp. Người thất nghiệp phải chịu bị gạt ra ngoài hệ thống, để cho hệ thống ấy tiếp tục hoạt động. Thật vậy, một nhà máy đang gặp khó khăn trong việc bán những đồ vật do ḿnh làm ra, có thể phải đóng cửa nếu không sa thải một phần thợ thuyền của ḿnh. Thế là những người thợ bị sa thải đă góp phần làm cho nhà máy tiếp tục tồn tại. V́ thế mà khi một xí nghiệp có kế hoạch sa thải thợ, th́ cổ phần chứng khoán của xí nghiệp ấy thường cao hẳn lên. Ngay cả thợ thuyền khi chưa bị thất nghiệp, cũng không sốt sắng đấu tranh cho những người đă thất nghiệp. Các lỗ lực đấu tranh của họ thường nhằm vào việc bảo vệ công ăn việc làm, bảo vệ măi lực của chính họ chứ ít đặt vào việc tạo thêm công ăn việc làm cho ngườI thất nghiệp. Nghiệp đoàn thường đấu tranh cho người đang có công ăn việc làm chứ không mấy khi đấu tranh cho người đă thất nghiệp. Khi có người đưa ư kiến lập nghiệp đoàn những người thất nghiệp, th́ các nghiệp đoàn lớn có vẻ khó chịu. Thế là người thất nghiệp coi như bị loại khỏi xă hội, loại ra ngoài chính “giai cấp” của ḿnh, ngoài các cuộc đấu tranh truyền thống của nó. Cuộc đấu tranh của người thất nghiệp trở thành một cuộc đấu tranh ngoài lề xă hội, bên ngoài “giai cấp” hiểu theo nghĩa cổ điển…

C̣n trên phương diện toàn cầu, th́ vấn đề đấu tranh giai cấp đương nhiên là nằm trong mâu thuẫn giữa các nước nghèo với các nước tiên tiến, phát triển. Giải quyết sự chênh lệch này bằng cách nào? Bằng cách mạng, hay bằng cải cách? Cải cách th́ nhiều khi người dân các nước giàu phải chịu giảm bớt măi lực của ḿnh, chịu làm chậm bớt sự gia tăng mức sống của ḿnh, để chia sẻ một phần của cải cho dân các nước nghèo. Nhưng, người dân các nước giàu có dễ dàng chấp nhận những hy sinh ấy không? Chính quyền các nước giàu có đủ can đảm đi vào con đường ấy hay không ? nếu không, th́ phảI chăng chỉ c̣n con đường cách mạng ? Muốn thực hiện cuộc cách mạng này th́ người dân các nước nghèo phải thực sự nắm quyền ở nước họ, thay v́ để chính quyền nằm trong tay những kẻ tay sai các nước giàu.

Hiểu Biết Và Quyền Hành

Trong bài phỏng vấn (trang 11, phần III), có lúc đặt ra vấn đề sản xuất trở thành cá nhân, v́ dựa vào sự hiểu biết, trong cái thời đại gọi là “thời đại máy tính” như hiện nay. Thật ra, vai tṛ của hiểu biết bao giờ cũng quan trọng, chứ có phải bây giờ mới quan trọng đâu, có phải là điểm đặc thù của thời đại tin học đâu ? Từ thời thượng cổ, những người t́m ra được bánh xe, hay cách chế tạo đồ đồng, đồ sắt v…vẫn sử dụng những “hiểu biết” ấy để chiếm ưu thế đối với các người khác, cho đến khi sự hiểu biết này trở thành phổ biến (có khi suốt mấy trăm năm). Thời tin học cũng là thời của truyền thông (média), nên sự hiểu biết lưu hành và phổ quát rất nhanh, chỉ vài tháng hay vài năm. V́ thế, khó mà giữ riêng được những hiểu biết trong một thời gian lâu dài như ngày xưa. Ở buổi ban đầu của kỹ nghệ, th́ ai phát minh ra được cái ǵ mới, th́ là giám đốc của xí nghiệp sản xuất ra cái ấy. Đến một giai đoạn sau người ta ít thấy những nhà phát minh làm giám đốc những xí nghiệp sản xuất ra những cái ḿnh nghĩ ra, mà giám đốc xí nghiệp thường là các nhà quản trị. Ở giai đoạn đầu, điều quan trọng là phát minh ra những cái mới. Sang giai đoạn sau, sự phát minh ra những cái mới bị người khác bắt chước rất nhanh, nếu vấn đề được đặt ra thêm là làm sao để sản xuất cho nhanh, cho rẻ, cho tốt và làm sao quảng cáo cho mạnh để chiếm thị trường, bán cho thật nhiều, đó là chưa kể đến vấn đề tồn trữ và phân phối. Gần chúng ta hơn, các kỹ thuật quản trị coi như cũng đă phổ quát đủ để vai tṛ của các nhà quản trị thuần túy phảI bắt đầu lùi bước. Một thí dụ : người chủ mới của Air France không phải là một người lăo luyện trong việc quản trị ngành hàng không, nhưng vẫn được bổ nhiệm để “cứu” Air France. Vai tṛ của ông ta là hoà giải các tranh chấp và động viên tinh thần nhân viên của xí nghiệp, trong khi các vấn đề quản trị thuần tuư đă có những người thông thạo về ngành hàng không dưới quyền ông ta lo liệu. Đó là loại chủ nhân “lănh đạo tinh thần”. Tất cả những khía cạnh phức tạp vừa tinh thần vừa vật chất này khó mà chỉ quy vào vai tṛ của cá thể được, mà đ̣i hỏi sự hợp tác giữa nhiều loại người, một “tinh thần đồng đội”. V́ thế dựa vào sự quan trọng của hiểu biết (không phải là đặc thù của giai đoạn tin học), để cho rằng sản suất sẽ trở thành cá nhân, th́ thật là khó hiểu.

Tư Bản Chủ Nghĩa Và Nhu Cầu Của Con Người


Thật ra, cho tới nay, chưa thấy có ǵ có thể đặt lại vai tṛ của tư bản, không những trong phát minh, hiểu biết (muốn nghiên cứu, phát minh, tức là hiểu biết, th́ phải có ngân quỹ), và trong sản suất, mà c̣n cả trong phân phối nữa.


Cũng chưa thấy có ǵ làm thay đổi mâu thuẫn giữa lợi nhuận do tư bản, và lợi nhuận của lao động. Mặt khác vẫn có vấn đề lợi nhuận bị tách rời khỏi nhu cầu của con người, đưa đến những nghịch lư như kềm hăm sản suất, trả tiền cho nông dân bỏ đất hoang. Kềm hăm sản suất, bỏ đất hoang, v́ sợ hàng hoá, nông phẩm sụt giá, trong khi nhu cầu vẫn hiện hữu. Trên thế giới vẫn có c̣n nhiều người chết đói, thiếu ăn, nhu cầu không được thoả măn, nhưng ở đa số những nơi có nhu cầu, th́ lại không có tiền mua. Hễ không đem lại lợi nhuận, th́ nhu cầu mua không được thoả măn, thế là lợi nhuận mâu thuẫn với nhu cầu của con người. Cũng có thể nói là nhu cầu gắn liền với hàng hoá. Hàng hoá th́ được trao đổi qua trung gian giá cả. Mà giá cả là tiền tệ, trong khi tiền tệ lại thường được quản lư một cách riêng biệt, theo những quy luật không chỉ liên hệ đến hàng hoá, có thể có mâu thuẫn với nhu cầu của con người.


Nói rằng khoa học kỹ thuật tạo ra công ăn việc làm, sẽ thoả măn nhu cầu của con người cũng chỉ là nh́n theo một phía. Khoa học kỹ thuật cũng có thể mâu thuẫn với nhu cầu của con người. Không nói đến vấn đề ô nhiễm môi sinh (do khoa học kỹ thuật gây ra, và cũng có thể nhờ khoa học kỹ thuật làm giảm bớt) và việc chế tạo những vũ khí tàn phá quy mô có thể di hại tới nhiều thế hệ, thậm chí có thể huỷ diệt loài người. Chỉ nói đến mâu thuẫn giữa cái máy và con người. Cái máy làm việc th́ con người thất nghiệp. Khoa học kỹ thuật làm cho cái máy càng ngày càng làm được nhiều việc, và như thế con người càng ngày càng bớt việc. Bây giờ các nhà kinh tế nói dù cho có phát triển, dù cho sản xuất có gia tăng, cũng không chắc đă có thêm công ăn việc làm, cũng là do gia tăng sản xuất bằng sức máy, chứ không tạo thêm việc làm cho con người.
Tóm lại, những ǵ được coi là những “giá trị” của xă hội tư bản, kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật đều có thể mâu thuẫn với nhu cầu của con người. Giải quyết mâu thuẫn ấy trong chiều hướng tốt đẹp nhất là bổn phận của mọi người thành tâm, thiện chí. Gọi đó là đấu tranh giai cấp hay ǵ đi nữa, th́ cũng chỉ là vấn đề danh từ mà thôi !


Riêng đối với thời cuộc VN, nay trở thành nước “tư bản đỏ”, nằm trong mạng lưới tư bản quốc tế, th́ vai tṛ của những người có truyền thống đấu tranh cho công bằng, cho người nghèo, cho người bị bóc lột, như những người Đệ Tứ, sẽ rất quan trọng. Chưa thấy có tổ chức nào hiện nay có lư thuyết vững vàng trong các lănh vực ấy như Đệ Tứ. Vấn đề bây giờ là kiện toàn các yếu tố c̣n lại: lănh đạo, tổ chức, cán bộ, trước khi đi đến giai đoạn vận động quần chúng, trong một bối cảnh khủng hoảng.

Vài hàng tâm sự với bác để hiểu nhau hơn.
Kính mong bác luôn vui khoẻ.

Nguyễn Hoài Vân 

(1/5/1994)

 

Trở về Mục Lục