Đạo Nào Xuất Thế Tiêu Cực, 

Đạo Nào Nhập Thế Tích Cực ?

 

 CHA TAO, CHA MÀY

 Tôi rất ngán thái độ chia rẽ con người với con người bằng cách dán cho tôn giáo này nhăn hiệu này, tôn giáo khác nhăn hiệu khác, rồi phong cho cái này là tốt, là đúng, chê bai cái kia là thấp kém, là lầm lạc. Thái độ ấy cũng vô lư và đáng thương như câu chuyện mấy đứa trẻ mồ côi đập nhau chí tử, để tranh căi rằng: “Cha tao giàu hơn cha mày, mạnh hơn cha mày, v.v…”, mà không biết rằng chúng đều là anh em ruột cùng chung cha mẹ!

Thông thường, người ta hay bảo Ky Tô Giáo, Khổng Giáo, là “tích cực, nhập thế”, c̣n Phật giáo, Lăo Giáo là “tiêu cực, xuất thế”. Để dẹp bớt cái luận điệu tào lao này, tôi sẽ nêu lên một số tính chất tiêu cực và xuất thế trong tư tưởng Ky Tô Giáo, rồi nh́n qua vài khía cạnh tích cực, nhập thế của Phật giáo. Tôi cũng có thể viết một bài tương tự với Khổng và Lăo Giáo, nhưng đó không phải là chủ đề của bài viết này.   

VÀI MẶT TIÊU CỰC TRONG TƯ TƯỞNG KITÔ GIÁO  

Xin chọn vài thí dụ, lấy từ thần học của Thánh Augustin (354-430), được coi như một cột trụ của Giáo Lư Ky Tô Giáo. Vị thánh này là người đă “sáng chế” ra “tội Tổ Tông” hay “tội nguyên thủy” (péché originel), để chống lại quan điểm “nhân chi sơ, tính bổn thiện” của Thầy Tu Pélage (mất năm 418). Trong khi Pélage cho rằng con người có tự do, và có thể tích cực chọn lựa giữa làm việc thiện hay làm việc ác, th́ Augustin quả quyết con người chỉ có thể làm việc ác, và chỉ khi nào được hưởng nhờ Hồng Ân Thiên Chúa con người mới biết làm việc thiện, để hy vọng được cứu rỗi. Quan điểm này hoàn toàn tiêu cực, nhất là khi Augustin nhấn mạnh là Thiên Chúa chỉ ban phát Hồng Ân của Ngài cho một số người được chọn lọc (praedestinati), theo những tiêu chuẩn riêng của Ngài mà không ai có thể hiểu nổi. Tuy nói vậy, nhưng Augustin cũng vẫn “bật mí” cho chúng ta biết một tiêu chuẩn trọng yếu: đó là số người được hưởng nhờ ơn Chúa, và được giải thoát, phải bằng với con số Thiên Thần bị giáng chức và bị tống cổ ra khỏi Thiên Đàng. Những người c̣n lại, thuộc về tập thể bị loại trừ (massa perditionis), sẽ bị thiêu đốt đời đời trong Hỏa Ngục. Ư kiến “tiền định” tương tự cũng có thể được nhận thấy trong Thánh Thư của Thánh Phao Lô gửi tín hữu La Mă (8:28-30). 

Như vậy, bạn đọc thân mến, tôi rất hân hạnh được báo cho bạn biết, nếu bạn chưa biết, rằng trên nguyên tắc, bạn là một tên tội lỗi, hèn hạ, xấu xa, dơ dáy, ác ôn, độc địa. Một tên… phản động, phản cách mạng! Tương lai tốt đẹp nhất mà bạn có thể mơ ước là sự thiêu đốt đời đời trong Hỏa Ngục giữa một bầy ác quỷ vô cùng kinh tởm. Tuy nhiên, giả sử trong muôn một, có một anh Thiên Thần ấm ớ nào đó bị đuổi khỏi Thiên Quốc, và bạn lọt được lên trên ấy để thế vào chỗ của anh ta, th́ đó là do Ơn Chúa, được ban phát cho bạn, chứ chẳng phải v́ bạn xứng đáng chi cả. Vả lại, bạn cũng chẳng thể làm được điều ǵ xứng đáng, v́ bản thân của bạn là xấu xa, tội lỗi. Nói cách khác, bạn hoàn toàn bó tay và chỉ có thể trông nhờ nơi Ơn Chúa. Mà Ơn Chúa có ban phát hay không ban phát cho ai th́ lại đă được định đoạt từ ngàn đời trước rồi! Tôi gọi đó là một tư tưởng tiêu cực, bạn nghĩ sao ?

Nếu từ lập luận này mà tôi bảo Ky Tô Giáo là tiêu cực, th́ nhiều người sẽ trích dẫn một triệu lẻ một kinh điển ra để minh chứng ngược lại, rằng Ky Tô giáo rất tích cực, và họ có lư. Điều này cho thấy không thể từ một số suy tưởng cục bộ mà dán một nhăn hiệu lên cho một tôn giáo !

VÀI KHÍA CẠNH TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO 

Phật giáo coi bản tánh của mọi chúng sanh đều là Phật. Chỉ cần bỏ những mù quáng, mê chấp, th́ nhận ngay ra ḿnh là Phật. Không ai bị bỏ rơi, không có “massa perditionnisi” v́ mọi người đều là Phật, bỏ sao được? Đó là một điểm tích cực quan trọng. Mặt khác, cũng không cần sự cứu rỗi từ bên ngoài v́ Phật ở sẵn trong ḿnh rồi, chứ nào có ở đâu trên mây trên gió mà phải nhào tới cứu độ ḿnh? Tức là mỗi người cần tích cực đi t́m giải thoát, với sự soi sáng tự nhiên của Phật Tính nơi ḿnh, để thay đổi cách nh́n của ḿnh về sự vật, về ḿnh, và để t́m thấy chính ḿnh.

Trên con đường tu tập, Phật giáo dạy phải thực nghiệm, chẳng nên tin vào giáo điều lư thuyết chi cả. Tức là phải tích cực t́m hiểu, chứ không thụ động tin theo ông thần này hay ông thánh nọ, để rồi mù quáng tiêu cực loại bỏ những ǵ không nằm trong “giáo lư” của ḿnh.    

Đối với vấn đề thiện ác, Phật giáo có một nhăn quan đặc biệt tích cực. Khi sự ác được chấp nhận như hậu quả của lẽ nhân duyên, th́ không c̣n có thái độ tiêu cực loại bỏ. Kẻ sát nhân, người gian hiểm, chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân của nghiệp báo chập chùng, nhân duyên trùng điệp, chứ trong bản tánh họ vẫn là Phật kia mà! Biết đâu chính v́ những hành động tàn ác kia mà họ ư thức, giác ngộ và trở thành bậc Chánh Giác ? Với tinh thần ấy, người ta thông cảm, t́m hiểu những nhân duyên của một hành động tàn ác, và t́m cách nâng đỡ, chứ không loại trừ cá nhân làm việc ác ấy. Nếu có phê phán, th́ người ta phê phán hành động chứ không phê phán con người. Điều này rất tích cực, v́ nó không bao giờ loại bỏ khả năng hướng thiện dù trong bất cứ t́nh huống nào.  

Nói: Anh “là” xấu xa, như trong ngôn ngữ Tây phương thông thường (you are bad), rất khác với: “anh đă làm một việc xấu xa”. Câu nói thứ hai có ư nghĩa tích cực quan trọng. Tương tự như vậy, trong trị liệu, tôi thường cố gắng nói với bệnh nhân: “Vous avez une dépression” (anh hay chị đang mắc chứng suy nhược thần kinh), thay v́: “Vous êtes déprimé” (anh chị “là” suy nhược thần kinh). Với câu nói ấy, tôi cố gieo một chủng tử tích cực, hướng tâm lư người bệnh về một hướng tích cực, thuận lợi cho sự lành bệnh.

 Những quan điểm vừa nêu có phải là đặc thù của Phật giáo hay không ? Hoàn toàn không. Chẳng hạn dưới một h́nh thức khác, những quan điểm ấy đều hiện hữu trong tư tưởng Ky Tô giáo. Thật vậy, tôi có thể t́m thấy tất cả những ǵ tôi vừa nói về Phật giáo trong Thánh Kinh. Vậy, đạo nào tích cực ? Đạo nào tiêu cực ?

 

TƯ TƯỞNG XUẤT THẾ TRONG KITÔ GIÁO

Chúng ta có thể dựa vào một số lời nói của chính Đức Ky Tô để nhận ra một khuynh hướng xuất thế rất đậm nét trong Kitô giáo.

- Trong Phúc Âm thánh Gioan (15:19), Đức Ky Tô nói rất rơ với các môn đệ, tức là với toàn thể Ky Tô hữu: “Các con không thuộc về thế gian, thầy đă đặt các con ra ngoài thế gian”. Và khi toàn quyền La Mă Pilatô tra vấn Ngài, Ngài cũng tuyên bố: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian” (Gio-An.18:36).  

-  Thật ra, Đức Ky Tô không những chủ trương đứng ngoài thế gian, mà Ngài c̣n coi thế gian là nguồn của sự dữ, là vương quốc của Ác quỷ, là sự chống phá lại công tŕnh của Ngài. Ngài nói: “Thế gian thù ghét Ta v́ Ta chứng minh được rằng những công tŕnh của thế gian đều xấu xa” (Gio-an 7:7). Một lúc khác, trong lời cầu nguyện với Thiên Chúa, Ngài nói: “Con đă truyền cho họ (các môn đệ) lời nói của Cha và thế gian đă thù ghét họ, v́ họ không thuộc về thế gian, như chính con cũng không thuộc về thế gian.” (Gioan 17:14). Rơ rệt hơn nhất, trong Gioan 12:31, Ngài gọi Ác quỷ là “Vua của thế gian” và trong Gioan 12:30, Ngài phán: “Từ nay, Ta không c̣n nói chuyện với anh em được nữa, v́ Vua của thế gian này đă đến”.  

Bây giờ tôi xin bạn chú ư đến một câu chuyện được kể lại trong tất cả các bộ Phúc Âm trừ Phúc Âm Gioan. Đó là chuyện Ác quỷ cám dỗ Đức Ki Tô : Trước khi Đức Ki Tô thu nhận môn đệ và bắt đầu giảng dạy, Ngài đă vào sa mạc tĩnh tâm một thời gian. Lúc ấy, Ác quỷ đến cám dỗ Ngài. Có ba sự cám dỗ, sau khi Đức Ki Tô đă vượt qua hai sự cám dỗ đầu tiên, th́ Ác quỷ đưa Ngài lên một đỉnh núi cao và chỉ cho Ngài thấy tất cả thế gian với những vương quốc giàu mạnh, vinh quang, những lâu đài lộng lẫy, những thú vui vô số và bảo Ngài phải khuất phục nó, th́ thế gian sẽ thuộc về Ngài. Đương nhiên là Đức Ky Tô lại khước từ thêm một lần nữa, với câu nói bất hủ: “Vade retro, Satanas” (Sa Tăng, hăy cút đi !). Đức Thích Ca cũng đă từng bị Quỷ Vương cám dỗ một cách tương tự ... 

Thật ra quan điểm xuất thế đă hiện hữu trong tư tưởng Do Thái, đặc biệt từ khi dân tộc này bị lưu đày vào năm 538 tới 587 trước Công Nguyên. Khi ấy trong nổi buồn tha hương, vong quốc, đất nước hoàn toàn bị phá hủy, người Do Thái chỉ c̣n biết ngước mắt kỳ vọng nơi một quê hương trên trời. Quê hương thật, đất nước thật của họ, từ đó, chính là Nước Trời, chứ không c̣n là một mảnh đất nào trên cơi thế nữa. Thánh Phao Lô, trong Thánh Thư gửi người Do Thái (11:14), cũng đă nhắc lại niềm tin này.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy Ác quỷ Satăng chính là Vua của thế gian, và Đức Ky Tô với quyền năng của Ngài, cũng có thể ngự trị trên thế gian, y hệt như Ác quỷ. Mặc dầu vậy, Đức Kitô đă chọn khước từ thế gian, thậm chí sau này c̣n chấp nhận cho thế gian giết chết ḿnh …  

Thật ra quan điểm đă hiện hữu trong tư tưởng Do Thái, đặc biệt từ khi dân tộc này bị lưu đày vào năm 538 tới 587 trước Công Nguyên. Khi ấy trong nổi buồn tha hương, vong quốc, đất nước hoàn toàn bị phá hủy, người Do Thái chỉ c̣n biết ngước mắt kỳ vọng nơi một quê hương trên trời. . Thánh Phao Lô, trong Thánh Thư gửi người Do Thái (11:14), cũng đă nhắc lại niềm tin này. 

Một tư tưởng khác rất phổ thông trong Ky Tô giáo, là sự xác quyết sẽ có một ngày tận thế. Tất cả những ǵ con người xây dựng được nơi thế gian đều sẽ bị hủy diệt. Đức Ky Tô, trong các đoạn Phúc Âm Mát-Thêô 24, Mác-cô 13 và Lu-ca 21 đă nói về vấn đề này. Tức là sẽ không có một thế gian tốt đẹp, viên măn, trường cửu như con người thường ước mong. Lịch sử sẽ không phải là gịng sông đưa nhân loại đến bờ hạnh phúc, hay con đường xa lộ dẫn cái xă hội mà ta đang sống đến với Thiên Chúa như Hegel từng quan niệm. Nước Chúa sẽ không phải là sự nối dài của cái xă hội mà ta đang sống, đang chăm lo bồi đắp. “Tất cả đều sẽ bị hủy diệt” đó là lời Chúa !

Nhiều người sẽ nói: đó là chuyện xa vời, ngay bây giờ, vẫn phải chăm lo cho gia đ́nh, cho xă hội, cố sức xây dựng b́nh an hạnh phúc, v.v.. Đó là những ư tưởng rất chính đáng của đại đa số con người. Nhưng Đức Ky Tô nghĩ sao ?  

Về gia đ́nh, Ngài bảo với các môn đệ, tức với tất cả chúng ta, rằng phải bỏ hết tất cả những ràng buộc gia đ́nh, để theo Ngài: “Nếu kẻ nào đến với ta mà không từ bỏ cha mẹ ḿnh, vợ con ḿnh, và cả chính đời sống của ḿnh, th́ người ấy không thể là môn đệ của ta” (Lu-ca 14-26). Khi có môn đệ xin được về nhà từ giă gia đ́nh trước khi lên đường theo Ngài, Đức Kitô từ chối ngay tức khắc và nạt rằng: “Kẻ nào đă bắt tay vào cày ruộng (tức là đă theo Ta) mà c̣n nh́n về phía sau, th́ kẻ ấy không xứng đáng vào Nước Chúa!” (Lu-ca 9-26). Một môn đệ khác xin về chôn cất cha ḿnh vừa mới qua đời, ngài cũng từ chối rằng: “Cứ để người chết chôn người chết, phần anh hăy đi rao giảng nước Trời” (Lu-ca 9:59-60). Phải nói là Chính Đức Ky Tô cũng đă hoàn toàn từ bỏ gia đ́nh ḿnh. Trong Phúc Âm, không khi nào thấy Ngài gọi mẹ Ngài là “mẹ”, mà chỉ nói “Bà kia”. Và một ngày nọ khi   đang ở giữa đám đông, th́ có người đến báo tin cho Ngài biết rằng: “ Mẹ anh và các em anh đang t́m anh ngoài kia”. Đức Ky Ttô rảo mắt nh́n quanh cử tọa, rồi nói: “Đây là mẹ ta, đây là anh em ta, tất cả những ai hành động theo thánh ư Chúa, đều là mẹ và anh em ta” (Mác-cô 3:32-35).

C̣n đối với xă hội ? Đức Ky Tô nói rất rơ: “Đừng lầm tưởng rằng ta đến để mang lại ḥa b́nh trên trần thế, ta không đến để đem lại b́nh an, mà chính là để đem lại gươm đao, cho người con trai nổi lên chống lại cha ḿnh, người con gái chống lại mẹ ḿnh, người con dâu chống lại mẹ chồng, người trong một gia đ́nh đối nghịch lại với nhau” (Mát-Thêô 10:34-35). Trong Phúc Âm Lu-ca, Ngài cũng nói một câu tương tự (Lu-ca 12:51-53). Việc “đem lại gươm đao” cũng được nhắc đến ở đoạn Phúc Âm Lu-ca 22-36, khi Đức Ky Tô nói với các môn đệ: “Ai chưa có vơ khí th́ hăy bán áo choàng của ḿnh đi mà mua lấy một thanh gươm”.  

Đương nhiên là thái độ này của Đức Ky Tô không mấy ǵ là “politically correct”, và nhiều người “thông minh” hơn Ngài đă phải lập tức giải thích rằng: Ngài nói vậy nhưng phải hiểu khác, phải hiểu rằng, th́, mà, là … ngược lại ! Cũng như khi Ngài dạy phải bỏ hết tiền bạc, tài sản, hay cho rằng “Người có của vào nước Trời c̣n khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Những lời nói ấy làm rộn sự “b́nh an” hưởng thụ của nhiều người. Họ không thể nào chấp nhận chúng được. V́ thế, họ phải dạy khôn Đức Ky Tô, bảo Ngài phải hiểu những lời Ngài nói một cách khác, hợp với những nếp suy tư trưởng giả và những ham muốn thường t́nh của họ hơn. Đừng quên, người đương thời đă đem Chúa Kitô ra đóng đinh trên thập giá, thậm chí ngay chính những kẻ trong gia đ́nh Ngài cũng đă muốn bắt giữ Ngài, v́ họ cho rằng: “Nó đă mất trí !” (Mác-cô 13:21)

PHẬT GIÁO VÀ KHÁI NIỆM NHẬP THẾ 

Phật giáo không phân biệt thế gian với “ngoài thế gian”. Tất cả đều là tâm (vạn Pháp quy tâm). Vậy th́ chỉ có Tâm. Nếu chỉ có Tâm mà thôi, th́ xuất thế phải ra ngoài Tâm. Khi ấy, thử hỏi cái ǵ sẽ ra ngoài Tâm? Có phải cũng là tâm hay không? Tâm làm sao phải ra ngoài Tâm được? Vậy, Phật giáo không thể xuất thế !

Một cách nói khác: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vậy th́ Phật ở đầy trong thế gian này, nh́n đâu cũng thấy Phật, Phật làm sao mà xuất thế được? Đây cũng là một cách giải thích nghệ thuật của Phật giáo, đặc biệt là của Thiền Tông, với những bài thơ hay những bức họa đầy t́nh thân ái, mô tả những cảnh vật nhiều khi rất nhỏ nhoi, những con người nhiều khi rất bé mọn, những động tác nhiều khi rất tầm thường, diễn đạt niềm cảm thông sâu sắc với tất cả những ǵ chung quanh. Nhất định là các nghệ sĩ và Thiền sĩ ấy không khước từ thế gian, không coi thế gian là hiện thân của sự Ác… Sự Ác có chăng th́ chỉ là kết quả của vô minh, chứ dưới tấm màn vô minh ấy, vẫn luôn tiềm tàng Phật tính. Có khác với tư tưởng của Đức Ky Tô hay không? Tôi nghĩ là không khác, mặc dù những ǵ tôi vừa viết ở đoạn trên c̣n cần được tŕnh bày rơ ràng hơn. Xin hẹn bạn dịp khác. 

Một loại lập luận khác có thể được nêu lên là: hạnh nguyện Bồ Tát, từ chối sự giải thoát cho riêng ḿnh khi c̣n bất cứ chúng sinh nào chưa được giải thoát, chính là một tư tưởng nhập thế triệt để. Phật giáo Mật Tông cũng tin ở Phương Đông có một vị Phật tên là Aksobhya (A Súc Bệ), tượng trưng cho sự nhập thế, cứu độ, đi từ vô biên vào thế giới hữu hạn để thực hiện sự cứu độ và đi từ hữu hạn đến vô biên để thực hiện sự giải thoát … 

 

DANH HIỆU CỦA QUỶ VƯƠNG 

Trong truyền thống Do Thái, Ky Tô và Hồi Giáo, người ta gọi Ác Quỷ là Sa Tăng. Bạn có biết chữ ấy nghĩa là ǵ không? Trong tiếng Do Thái cổ, chữ ấy được dùng để chỉ người có trách nhiệm lên án trong một phiên ṭa, như một loại Công Tố Viên ngày nay vậy. Nói rộng ra, tất cả những kẻ lên án người khác, đều có thể được gọi là Sa Tăng ! Và khi chúng ta lên án bất cứ ai, th́ đó chính là tiếng nói của Quỷ Vương trong chúng ta. V́ thế, Đức Kitô mới nói: “Đừng lên án, để khỏi bị lên án”. Và nhất là đừng lên án cả một tập thể, cả một cộng đồng, thậm chí cả một phần nhân loại, v́ tín ngưỡng của họ. Bạn có thể nghĩ được rằng tất cả những người không cùng tôn giáo với bạn, trong đó có bạn bè của bạn, thậm chí ông bà tổ tiên của bạn, đều đáng bị liệng xuống một địa ngục nào đó hay không? Phải chăng họ đều là những ác quỷ, hay những “chuẩn ác quỷ”? Dù cho bạn có thuộc về tôn giáo nào đi chăng nữa, th́ bạn cũng vẫn là thiểu số trong toàn nhân loại. V́ thế lên án những người khác tôn giáo với ḿnh, chính là tự đặt ḿnh vào một địa ngục ngay từ bây giờ với vô số “ác quỷ” nhan nhản chung quanh ḿnh !

Thật ra, có những sự lên án gay gắt, nhưng cũng có những chê bai lịch sự, tuy không kém phần trịch thượng, kiểu như: Đạo ấy chưa hiểu tới, hay chưa đạt đến tŕnh độ này, tŕnh độ khác. Tôi nói thái độ này cũng vẫn là một sự lên án, v́ ta không thể biết nó sẽ trở thành gay gắt lúc nào, và v́ nó có thể gợi lên những phản ứng gay gắt nơi những người bị ḿnh chỉ trích. Thái độ ấy cũng vẫn là thái độ của Sa Tăng, của Ác Quỷ.

Hơn lúc nào hết, cần đi t́m những điều giống nhau trong các tôn giáo, các gịng tư tưởng, hơn là đào sâu những khác biệt. Riêng trong sự t́m hiểu những điều cốt lơi của Ky Tô giáo và Phật giáo, th́ tôi có thể xác quyết với bạn rằng : quả thực, tôi không hề thấy điều chi mâu thuẫn giữa hai tôn giáo này.

 

NGUYỄN Hoài Vân

1/4/1995

Trở về Mục Lục