PHẬT GIÁO VÀ CÁC VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI

—-o—-



Sau khi đă được truyền bá một cách trực tiếp trên quê hương của phân nửa loài người, và gián tiếp ảnh hưởng trên một phần không nhỏ những vùng đất c̣n lại (1), Phật Giáo của những ngày cuối thế kỷ 20 không ngừng chinh phục thêm những tâm hồn mới, mở rộng đến những xă hội, những nền văn hóa mới, đặc biệt là ở các nước thường được gọi là “Tây Phương”. Tại các quốc gia này, càng ngày càng có nhiều người bày tỏ sự đồng t́nh, hay ít ra là thiện cảm, với tư tưởng của Đức Thích Ca. Trong số họ, có nhiều triết gia, văn nghệ sĩ, kư giả, nhà kinh doanh, khoa học gia từ các ngành học Vật Lư tới Tâm Lư, và cả những Linh Mục, Nhà Thần Học, Nhà Khổ Tu v.v...Riêng tại Pháp đă có khoảng 300 ngàn người tuyên bố tín ngưỡng của ḿnh là Phật Giáo (2). Con số cảm t́nh viên không đặt vấn đề theo Đạo này hay theo Đạo khác, chắc chắn c̣n nhiều hơn gấp bội phần. Khi Tạp Chí “Vogue” in h́nh Đức Đạt Lai Lạt Ma trên trang b́a, số báo bán được liền tăng lên tới 83 % ! Ban nhạc Rock “Meccano"(người Tây Ban Nha), không nổi tiếng lắm, nhưng trong thời gian phô biến một bài hát về Phật Giáo Tây Tạng, đă trồi lên được thượng tầng của bảng xếp hạng “Top 50” ! (3) Rồi khi phim “Little Buddha” được tŕnh chiếu lần đầu tại Paris, một số nhà phê b́nh tỏ vẻ thất vọng v́ đă đặt quá nhiều hy vọng nơi nhà đạo diễn tài danh Bertolucci để làm chói sáng tư tưởng Phật Giáo trong quần chúng Tây Phương. Thêm vào đó, sự pha trộn hai câu chuyện, chuyện chú bé người Mỹ ở thời nay, và chuyện cuộc đời Đức Phật, bị coi như một “xảo thuật” đẻ cho khán giả “dễ nuốt” Đức Phật hơn, và như thế, đă bị chê là không đủ niềm tin nơi Đạo Phật ! Phải nói là giới trí thức Tây Phương không thiếu người đặt niềm tin nơi tư tưởng Phật Giáo để giải quyết các vấn đề của thời đại, như S.C.Kolm (4) trong sách “Sortir de la crise"(Ra khỏi khủng hoảng), hoặc như Octavio Paz, Giải Nobel Văn Chương (5), khi ông nói :“Phật Giáo là tư tưởng ngoạn mục nhất, và mang nhiều tính cứu độ nhất...”

Sự lan rộng của Phật Giáo lại có vẻ rất nhẹ nhàng, ít gặp những chống đối gay gắt. Thật vậy, một tôn giáo thường phải đụng đầu với hai loại đối thủ : khoa học “vật chất”, và các tôn giáo khác (tôn giáo “bạn”!). Đối với Phật Giáo, khoa học không là đối thủ. Ngược lại, người ta không ngớt bàn tán về những tương đồng giữa đa số quan điểm của Đạo Phật với những khám phá mới nhất của khoa học. Các tôn giáo “bạn” cũng có vẻ sẽ không là những đối thủ của Phật Giáo, nếu Đạo Phật được tŕnh bày dưới một h́nh thức nào đó. Linh Mục Ḍng Tên Yves Raguin (6) có thuật lại một giai thoại lư thú, như sau :

Vào thế kỷ thứ 8, Jean Damascène, người Syrie, đă dịch một tác phẩm mà ông nghĩ là cuộc đời của Thánh Josaphat. Theo LM Raguin, tác phẩm này ảnh hưởng mạnh mẽ trên đời sống tu hành của các tu viện Công Giáo thời Trung Cổ. Một chi tiết : tác phẩm của Damascène nói về cuộc đời...Đức Phật !

Điều này cho thấy, dưới một h́nh thức hơi “độc đáo” một tí, giáo lư của Đức Thích Ca đă được chấp nhận bởi Ky Tô Giáo kể cả trong một thời kỳ bị coi là ít cởi mở nhất. V́ thế người ta không ngạc nhiên khi nghe Linh Mục Ḍng Tên J.K.Kadowaki nói rằng chính nhờ Phật Giáo mà ông đă hiểu và thực hành Thánh Kinh một cách xâu xa hơn (7). Người ta cũng không ngạc nhiên trước khẳng định của Linh Mục Khổ Tu David Steindl-Rast (8) cho rằng cần phải vận dụng rộng răi phương pháp luận Phật Giáo, rằng các lư thuyết “tính Không” và “Trung Đạo” có thể giúp khái niệm “mến Chúa” có nội dung. Rồi cũng thật tự nhiên khi thấy các vị Khổ Tu Công Giáo ngồi xếp bằng tĩnh tọa theo phương pháp của Nhà Phật, trong một phóng sự truyền h́nh Pháp. Thật ra, danh sách các Tu Sĩ Công Giáo đă công khai ủng hộ Đạo Phật c̣n dai. Ta có thể kể thêm : Linh Mục Ḍng Tên (Jésuite) Enomiya Lasalle, Linh Mục Besnard, Ḍng Thỉnh Giảng (Dominicain), Nhà Khổ Tu Pierre Francois de Béthume (Ḍng Bénédictin), Hồng Y Lercaro, Tổng Giám Mục thành Bologne, v.v...(9) Thậm chí đến Nhà Thần Học Eugen Drewermann, một Linh Mục Công Giáo đang gặp vài khó khăn với “thượng cấp”, đồng thời cũng là một nhà Phân Tâm Học, Giáo Sư Đại Học, và là hiện tượng nổi bật trong trường tư tưởng Âu Châu vài năm nay, được tán dương là “Luther tân thời”, cũng đă chọn một câu của Đức Phật để làm bạt cho tác phẩm nổi tiếng nhất của ông (10). Ông thường tuyên bố : rất gần Phật Giao, cho rằng Phật Giáo chứa đựng ư nghĩa nguyên thủy của Phúc Âm (11). Tuy nhiên, ông vẫn chọn là người Công Giáo, v́ hệ thống biểu tượng của Công Giáo thích hợp với ông hơn. Gần đây, bà Tổng Thống Đức Herzog, một người theo Đạo Tin Lành, cũng nói trong một cuộc phỏng vấn là bà t́m thấy nơi Đạo Phật nhiều điều như tính vị tha, khả năng tập trung tinh thần, và “sự b́nh thản rất lớn về mặt nội tâm”...(12) Ngược thời gian, nhiều học giả, trong số có C.G.Jung, đă ghi nhận những tương đồng giữa Giáo lư của Đức Phật với tư tưởng của Thánh Ignace de Loyola, Thánh Thérèse d'Avila, Thánh Francois d'Assise, hay của Maitre Eckhart...

Vậy, nếu không bị cản trở bởi khoa học “vật chất”, cũng không bị cản trở bởi các tôn giáo khác, th́, trong thời đại mới, cái ǵ sẽ cản trở sự lan rộng của Phật Giáo ra khỏi những lănh thổ truyền thống của ḿnh, đến những vùng đất mà tư tưởng và cách sống vẫn c̣n ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn nhân loại ? Cái ǵ, nếu không phải là chính...Phật Giáo ?

Nói thế, cũng là tự hỏi liệu Phật Giáo có thực sự đem lại nổi những điều hiệu quả để giải quyết những vấn đề của thời đại hay không ? Và, như mọi tổ chức thế tục, Phật Giáo sẽ thích nghi như thế nào với cái thời đại ấy ?

Mặt khác, chúng ta cung không thể không tự hỏi : trong trường hợp Việt Nam, đâu sẽ là những đóng góp của Phật Giáo trong giai đoạn đổi đời khó khăn sắp tới ?

Đó là những tham vọng của bài viết này. Để tiện việc tŕnh bày, trước tiên, chúng tôi xin đề nghị vài suy nghĩ về thời đại chúng ta hiện sống, trước khi bàn đến khả năng đóng góp của Phật Giáo trong thời đại ấy trên b́nh diện cá nhân, rồi trên b́nh diện xă hội, để kết thúc trong bối cảnh của nước Đại Nam ta.


    o                                              

I) VÀI SUY NGHĨ VỀ THỜI HIỆN ĐẠI :

A) CÁC TIÊU CHUẨN CỦA THỜI HIỆN ĐẠI :

Thời đại trong đó chúng ta đang sống bao gồm một số tiêu chuẩn được đề ra một cách quy ước. Có nhiều quy ước, và nhiều tiêu chuẩn. Chúng tôi xin chọn chỉ bàn đến ba tiêu chuẩn chính. Đó là:

-sự phát triển của khoa học
-sự đẩy lùi tinh tôn giáo ra khỏi môi trường sống của con người
-sự lănh đạo của một số h́nh thái kinh tế thường được gắn
liền với khái niệm Tư Bản Chủ Nghĩa.

B) NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THỜI ĐẠI :

Chúng ta chỉ có thể chọn vài vấn đề tiêu biểu. Trước hết, xin ban sơ qua về Tư Bản Chủ Nghĩa (13).


1) Tư Bản Chủ Nghĩa

Tư bản chủ nghĩa được định nghĩa như một mô h́nh tổ chức xă hội trong đó phương tiện sản xuất và phương tiện trao đổi nằm trong tay tư nhân. Tư nhân có khuynh hướng đặt tư lợi lên trên hết. V́ thế, một trong những động cơ chính yếu của xă hội tư bản là HIẾU LỢI. Để được lợi, tư bản chủ nghĩa đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ.

V́ cần đẩy mạnh tiêu thụ, nên xă hội tư bản thường ôn ḥa rộng răi, và khuyến khích CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA. Thật vậy, nếu hẹp ḥi, quá khích, th́ phải loại bỏ bớt một phần xă hội, tức bớt số người tiêu thụ. Mặt khác, cá nhân cần dược đề cao, cần có tự do, cần có một mức sống nào đó, để kích thích mỗi cá nhân tiêu thụ ngày một thêm lên.

Về chính trị, xă hội tư bản thường thiên về một thể chế ĐA NGUYÊN. Lư do v́ phương tiện trao đổi và sản xuất là thực chất của quyền hành, mà những phương tiện ấy lại nằm trong tay tư nhân, nên thực chất quyền hành trong xă hội dễ bị phân tán, trở thành “đa nguyên”. Tuy nhiên, dù bị phân tán, quyền hành vẫn nằm trong tay người có phương tiện sản xuất và trao đổi, khiến cho các xă hội tư bản thường đi vào con đường DÂN CHỦ H̀NH THỨC.

V́ được điều hành bởi tư lợi, kiểu dân chủ h́nh thức, nên các xă hội tư bản rất hay được quản lư một cách THIỂN CẬN.


2) Sự phát triển của khoa học dưới sự lănh đạo của Tư Bản Chủ Nghĩa

Tính duy lợi và thiển cận của các xă hội tư bản khiến sự phát triển của khoa học thường đưa đến hai loại vấn đề :

-Thứ nhất là ô nhiễm, tàn phá môi sinh, và lăng phí tài nguyên thiên nhiên. Lư do v́ các khám phá khoa học được ưu tiên hướng đến việc gia tăng sản suất (sản suất những hàng hóa mới, hay những hàng hóa sẵn có, nhưng nhanh hơn và nhiều hơn), cũng như gia tăng nhu cầu tiêu thụ. Gia tăng tiêu thụ và sản xuất đưa đến gia tăng ô nhiễm cũng như phí phạm tài nguyên thiên nhiên. Đó là chưa kể đến những tai hại đặc biệt của việc sản xuất và tiêu thụ khí giới...

-Thứ hai là vấn đề cạnh tranh giữa cái máy và sức người, làm gia tăng nạn thất nghiệp. V́ hiếu lợi, các xí nghiệp bị cám dỗ sử dụng máy móc thay con người, để làm giảm giá thành của hàng hóa, khiến cho sự phát triển kinh tế không c̣n tạo thêm công ăn việc làm như người ta vẫn thường tin tưởng. Thật vậy, gia tăng sản xuất bây giờ phần lớn do gia tăng năng xuất của máy móc, chứ không cần đ̣i hỏi thêm nhân công như trước.


3) Con người trong xă hội tư bản :

Con người trong xă hội tư bản c̣n gặp phải một số vấn đề khác như :

-Bị cô lập đối với thiên nhiên, trong những đô thị lớn, gây nên cảm giác xa lạ đối với thiên nhiên.

-Bị cô lập đối với những con người khác, do khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa nằm trong bản chất của xă hội tư bản.

-Bị đánh giá theo khả năng tiêu thụ của ḿnh : anh “hơn” tôi v́ anh có nhà sang hơn, xe lớn hơn, quần áo đắt tiền hơn tôi v.v...Con người tiêu thụ được tôn trọng, có nhiều quyền ("khách hàng là Vua"), trong khi con người sản xuất bị coi rẻ. Tại các nước tiền tiến, con người sản xuất cũng là con người tiêu thụ, và được tôn trọng. Trong khi đó, ở những quốc gia mà khả năng tiêu thụ c̣n quá kém, con người chỉ đơn thuần là “con người sản xuất”, th́ sanh mạng, đời sống cũng như nguyện vọng của những con người này rất “rẻ” (14). V́ bị đánh giá theo khả năng tiêu thụ, nên con người thời đại luôn lo lắng bám víu vào khả năng này để duy tŕ giá trị con người của ḿnh. Kết quả là một tâm trạng ích kỷ, và luôn ưu tư, lo lắng, nhất là đối với nạn thất nghiệp, được coi như một “định chế” của nhiều xă hội tư bản.

Ngoài ra, vai tṛ của con người trong xí nghiệp cũng đưa đến nhiều vấn đề quản trị phức tạp. Thật vậy, sự phát triển của phương thức sản xuất và sự biến hóa rất nhanh của thị trường khiến các xí nghiệp luôn phải nỗ lực thích nghi với hoàn cảnh mới. Khả năng thích nghi là một khả năng đặc thù của các sinh vật, trong đó có con người, chứ hoàn toàn không phải là sở trường của máy móc. V́ thế người ta không mấy ngạc nhiên khi thấy, mặc dù nằm trong bối cảnh cơ giới hóa mạnh mẽ hiện nay, các xí nghiệp vẫn thường nói đến nhu cầu quản lư nhân lực như một yếu tố rất quan trọng để phát triển (15). Người ta than phiền về sự rời rạc trong tổ chức nhân sự, với những đối kháng giữa chủ và thợ, giữa các cấp bậc trong xí nghiệp, về sự thiếu sốt sắng trong công việc làm, thiếu sáng kiến từ dưới lên, thiếu mềm dẻo trong những liên hệ giữa các cấp bậc, các ngành chuyên môn, đưa đến kiến thức và tin tức không lưu chuyển, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với những mục tiêu của xí nghiệp, thiếu sự đào tạo liên tục, thợ thuyền ở tầng cấp dưới thiếu kiến thức tổng quát về hàng hóa ḿnh sản xuất, v.v...(16)

Người ta không khỏi nghĩ đến sự thành công của những “mô h́nh xí nghiệp phôi thai” ở thời Trung Cổ là các tu viện Khổ Tu Công Giáo, đặc biệt là các tu viện Citeaux, và gần đây hơn, đến vai tṛ của Đạo Tin Lành trong sự phát triển của các xí nghiệp kỹ nghệ đầu tiên (theo Max Weber), và tự hỏi về tầm quan trọng của yếu tố tinh thần trong sự phát triển (16). Điều này đưa chúng ta sang lănh vực tôn giáo.

4) Sự lùi bước của Tôn Giáo trong thời hiện đại :

a) Khoa học và tôn giáo :

Sự phát triển của khoa học có khuynh hướng đưa Thần Thánh ra ngoài sự sống. Khoa học đem lại những giải thích duy lư cho các sự kiện mà con người cảm thấy trong cuộc sống mà không cần dùng đến các yếu tố thiêng liêng. Thần Thánh, Thiên Chúa, không c̣n cần phải can thiệp vào mỗi sự việc của cuộc sống nữa. Mặt trời không c̣n là cỗ xe ngựa, mỗi sáng phải chờ Thần Apollon leo lên lái chạy một ṿng trên ṿm trời, và cây cỏ, sông, biển, băo tố, mùa màng, bệnh tật v.v...sẽ chỉ c̣n tuân theo những định luật vật chất. Thậm chí, người ta biện minh được cho cả những quy luật điều hành các hiện tượng tâm thần (như với Freud), và các hiện tượng xă hội (với Xă Hội Học từ Auguste Comte tới sau này). Thế th́ Thần Thánh, hay Thượng Đế, giỏi lắm cũng chỉ được coi như những thế lực đă làm ra những định luật kia, rồi được mời...đi chỗ khác chơi ! Điều này đưa đến những hậu quả quan trọng trong đời sống con người.

b) Con người là con người tôn giáo :

Thật vậy, theo những nghiên cứu gần đây, đặc biệt là của Mircea Eliade, th́ “tính tôn giáo” không chỉ hiện hữu trong trạng thái ấu trĩ của loài người mà ngược lại, thuộc về bản chất của cái mà Pascal gọi là “cây sậy biết suy tư"(17). V́ thế, Eliade gọi con người là “con người tôn giáo” (homo religiosius), coi tôn giáo như thuộc về định nghĩa của con người, thuộc về “cái tôi” của mỗi người.

Thế nhưng, như vừa nói, với sự phát triển của khoa học, tính tôn giáo nơi con người bị mờ nhạt đi, và như thế là con người đă đánh mất đi một phần cái tính người của ḿnh. Đó là hiện tượng “vong thân”, khi “ta không c̣n là ta”. Điều này đưa đến một số phản ứng. Khi anh mất cái ǵ th́ anh lo lắng t́m kiếm. Trong điều kiện t́m không ra, th́ anh bực bội, cáu kỉnh, thần kinh căng thẳng. Việc t́m kiếm “cái tôi mà tôi không chấp nhận được” (do sự cản trở của óc khoa học) là một sự tranh đấu giữa tôi và tôi, với những tàn phá trên chính “cái tôi”, và những lăng phí năng lượng quan trọng.

Mặt khác, đánh mất tính tôn giáo cũng là đánh mất một mối liên hệ quan trọng giữa ḿnh và người khác, đưa đến một sự cô lập nào đó đối với đồng loại. Sự cô lập ấy có thể đem lại nhiều hoang mang, v́ nó khiến cho cuộc đời của mỗi người không c̣n liên hệ với một định mệnh lư tưởng chung của loài người nữa. Tôi sẽ đi về đâu ? tôi sống để làm ǵ ? v.v...trở thành những câu hỏi nặng nề, không trả lời được.

Với tôn giáo, trong nghịch cảnh, người ta vẫn c̣n có thể hy vọng nơi một định mệnh tốt đẹp chung của loài người, hay ít ra cũng có được một phương thế để ảnh hưởng trên những thế lực thần thánh điều hành những nghịch cảnh ấy, thí dụ cầu nguyện cho hết lụt, cho mưa thuận gió ḥa v.v...Ngày nay, một con người thời đại, lỡ có bị thất nghiệp, liền được giải thích rằng : sở dĩ anh thất nghiệp là v́ Bundesbank (18) tăng tiền lời, hay giá Đô La tuột dốc, hay thị trường chứng khoán ở Tokyo trồi sụt sao đó, v.v...Thử hỏi anh ta có thể làm ǵ được để ảnh hưởng trên những chuyện ấy ? Ông Thần, ông Thánh nào ảnh hưởng được trên Bundesbank, trên Federal Reserve, trên chỉ số Dow Jones, hay Nikkey ? Rốt cuộc vẫn là hoang mang, lo lắng, cảm giác bất lực, đưa đến thối chí, tuyệt vọng.

Phai nhạt tính tôn giáo, là tự cắt đứt phần nào với đồng loại, và cũng là một cách cắt nghĩa hiện tượng “cá nhân chủ nghĩa” của người thời đại. Không những “cá nhân chủ nghĩa” thái quá dễ đưa đến buồn bă, chán nản, mà, theo một số học giả, nó c̣n có thể làm suy yếu khả năng phát triển kinh tế, một ưu tư lớn của xă hội tư bản.

c) Tư Bản Chủ Nghĩa và Tôn Giáo :

Xă hội tư bản coi tôn giáo như một món hàng, nên cũng quư trọng tôn giáo, như quư trọng hàng hóa. Ngoài ra, tôn giáo cũng là phương tiện để duy tŕ sự ổn định xă hội. Có thể nói, trong một xă hội bất công, tôn giáo cho con người một cảm tưởng b́nh đẳng. Tuy nhiên những quan hệ vừa kể với tôn giáo không đủ để cho xă hội tư bản hưởng được những đóng góp có tính cách nền tảng của tôn giáo, thí dụ như việc đem lại một ư nghĩa cao quư, thăng hoa cho công việc làm. Con người trong xă hội tư bản làm việc cho ḿnh, với một tinh thần duy lợi riêng tư. Điều này, rất dễ đưa đến nhàm chán, buồn bă, hoang mang, lo sợ, cũng như thái độ luôn luôn bất măn thường thấy nơi con người thời đại. Thật vậy, nghĩ đến ḿnh nhiều quá, th́ cái ǵ cũng lo, cũng sợ, cũng than thở, sầu bi, hoặc bất măn, tức giận, dù cho ḿnh có nhiều may mắn cách mấy so với những người thực sự khốn khổ. Thậm chí đến sự đồng thuận mà nhiều người đề cao trong xă hội tư bản cũng chỉ là đồng thuận trên căn bản bảo vệ quyền lợi ích kỷ của các tập đoàn hay thế lực trong xă hội. Điều này không đương nhiên đưa đến những giải pháp tốt đẹp cho toàn xă hội. Nó có thể khiến xă hội trở thành rời rạc, mỗi tập đoàn cố bám víu lấy những quyền lợi riêng của ḿnh, bất chấp quyền lợi chung. Đây cũng có thể trở thành một trở ngại cho phát triển.

o


II) KHẢ NĂNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO TRONG THỜI HIỆN ĐẠI

A) TRÊN B̀NH DIỆN CÁ NHÂN :

Trên lư thuyết, người ta có thể dễ dàng đối chiếu những điều Đức Phật và các truyền nhân của Ngài giảng dạy với phần lớn những vấn đề của con người thời đại trên b́nh diện cá nhân. Chúng ta sẽ duyệt qua khía cạnh ly thuyết này, trước khi bàn đến hiệu quả rất kém cỏi của chúng trong thực tế, để nhấn mạnh đến khía cạnh phương pháp trong Phật Giáo.

1) Thỏa hiệp với khoa học :

Điểm lư thuyết đầu tiên mà chúng ta có thể ghi nhận, là : trong khi con người thời đại đánh mất tính tôn giáo của ḿnh, đưa đến t́nh trạng “vong thân”, với những hoang mang, buồn chán, như đă nói ở trên, mà đồng thời lại bị khó khăn trong việc t́m lại cái tính tôn giáo ấy, do sự cản trở của óc khoa học, th́ Phật Giáo đem lại một “tôn giáo” phù hợp với những khám phá khoa học mới mẻ nhất.

Nhu cầu “thỏa hiệp” giữa tôn giáo và khoa học được cảm nhận rất rơ ràng qua trường hợp của Chủ Thuyết Marx. Thật vậy, chủ thuyết Marx là một lư thuyết mang tính khoa học, nhưng lại thường được cảm nhận như một tôn giáo. Chúng ta đă thấy sức cuốn hút vô cùng mạnh mẽ của chủ thuyết ấy trong trường tư tưởng của thế kỷ 20. Ngày nay, chủ thuyết này không c̣n hợp “thời trang nữa, nhưng, nhu cầu “thỏa hiệp” giữa tôn giáo và khoa học vẫn c̣n nguyên vẹn. Phật Giáo đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu này.


2) Lo sợ v́ cuộc sống vượt ngoài tầm tay của ḿnh :

Như đă nói ở trên, con người thời đại sinh hoạt trong một cuộc sống vượt ngoài tầm tay ḿnh. Trước kia, con người có thể cầu cho mưa thuận gió ḥa, và lỡ có lụt lội, hạn hán, cũng có phương pháp cúng kiếng cầu đảo. Ngày nay, ông Thần nào ảnh hưởng được trên trị giá của đồng Đô La, trên lăi suất của Bundesbank ? Các chính sách kinh tế, tiền tệ, an sinh xă hội, năng lượng v.v...đa số đều rất phức tạp, khiến người dân thường khó mà hiểu nổi, mặc dù những chính sách ấy ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của họ. Cảm giác bất lực này làm cho sự hoang mang lo sợ trước những bất trắc của cuộc sống bị nhân lên gấp bội phần.

Trong t́nh trạng ấy, Phật Giáo dạy quay về với chính nội tâm ḿnh để t́m nguồn gốc của đau khổ, thay v́ chạy theo các nguyên do bên ngoài ḿnh, mà ḿnh không thể hiểu được, hay không thể ảnh hưởng tới được. Rồi, từ sự ư thức những nguyên do của khổ đau, Đạo Phât dạy t́m những yếu tố diệt khổ, và con đường đi đến các yếu tố ấy. Theo một quy luật tâm lư học dễ hiểu, th́ chỉ cần đặt chân trên con đường này, là khổ đau, lo sợ, đă giảm bớt đi rất nhiều rồi.

Thêm vào đó, thuyết nhân-quả dạy chú trọng vào “nhân” để đừng sợ “quả”. Đó là dạy đừng lo sợ trước những ǵ có thể xảy đến trong tương lai, mà hăy tập trung vào việc gieo rắc những “nhân” lành trong hiện tại, qua việc làm, lời nói và tư tưởng. Làm việc tốt lành, tự nó đă là một hạnh phúc. Tập trung vào đó, mà quên đi những nghịch cảnh đang hay có thể xảy đến, th́ chính là xa lánh ưu tư, lo lắng, mà trầm ḿnh trong nguồn hạnh phúc vậy.

Một khía cạnh khác của thuyết nhân-quả, là sự chấp nhận những ǵ xảy đến cho ḿnh như những điều bắt buộc, không thể tránh được, không làm sao khác được. Lo lắng cách mấy cũng vô ích, v́ một khi cái “nhân” đă gieo rồi, th́ “quả” bắt buộc phải gánh chịu. Chấp nhận, là an phận, và an phận, là bớt sợ hăi, bớt lo lắng. Nói cách khác, chấp nhận nghịch cảnh, chính là thoát khỏi nghịch cảnh, v́ khi đó nghịch cảnh là một cái ǵ tự nhiên, thuận quy luật, tức không c̣n “nghịch” nữa.

Với Thuyết Vô Thường, cho là sự vật luôn biến đổi (theo quy luật nhân duyên), Đạo Phật cũng dạy đừng quá chú tâm vào những điều hư hăo, luôn thay đổi, mà hăy tập trung vào cái cốt lơi của con người ḿnh. Cái “cốt lơi” ấy là ǵ, th́ tùy tŕnh độ nhận thức, nhưng dù cho ở tŕnh độ nào đi chăng nữa, sự giảng dạy này cũng khiến cho người ta bớt quan tâm tới những cái phụ thuộc như : tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, quần áo v.v...và bớt lo lắng cho sự được-mất của những thứ đó. Rồi cái mà người ta coi là “cốt lơi” dần dần đi vào con người ḿnh, trở thành thân sác, tức sức khỏe, và người ta nói :“giàu nghèo thây kệ, miễn có sức khỏe"(hay “sức khỏe là vàng"), rồi vào sâu hơn nữa, trở thành cái “tâm” thường ngày, và người ta lại nói :“sao cũng được, miễn là tâm hồn thanh thản”...Cứ như thế, với chút duyên lành, người ta càng ngày càng tiến sâu thêm, và ư thức được tới những tầng cấp khác của tâm, có khi tập trung được vào những điều như “bản lai chân diện mục”, “Phật Tánh”, hay “Tâm Vô Ngă” để đạt đến một mức đọ an tĩnh rất cao, nghịch cảnh không c̣n lay chuyển nổi.

Một sự giảng dạy rất quan trọng khác của Đạo Phật, có khả năng đánh tan những ưu tư lo lắng, là ḷng từ bi, hạnh bố thí. Dù cho chỉ là bố thí cầu phúc, chứ chưa được là “bố thí ba la mật” (với “tâm vô sở trụ"),th́ sự bố thí ấy vẫn có khả năng khiến cho con người biết quên ḿnh đi một chút, bớt nghĩ đến những ưu tư của ḿnh, để nghĩ đến người khác. Có lần tôi đọc được một lời nguyện như sau :“nguyện cho cuộc đời tôi khổ sở hơn hiện tại gấp trăm ngàn lần, để cho chúng sinh được bớt đau khổ”. Kẻ nguyện lời này, dù chỉ trên đầu môi chót lưỡi, chứ không thành thật tâm niệm nó, cũng có thể có được một cái nh́n tích cực hơn đối với sự đau khổ. Biết đâu kẻ ấy lại chẳng dễ dàng chấp nhận một sự khổ đau nào đó hơn một chút, nếu nghĩ được rằng nhờ đó, mà mẹ ḿnh, con ḿnh, những người ḿnh yêu mến, bớt khổ ? Thật ra, nguyện “khổ hơn trăm ngàn lần” không phải là đi t́m sự đau khổ, mà là sửa soạn tâm hồn để dù cho một sự khổ sở to lớn có xảy đến, th́ ḿnh cũng vẫn vui vẻ gánh chịu. Đó là t́m niềm vui. Vui trong cái khổ, trong nghịch cảnh, với “Bồ Đề Tâm”, và “Vô Phân Biệt Trí” (phiền năo tức Bồ Đề). Và nguyện cho “chúng sinh bớt khổ”, chính là phân bố niềm vui (trong cảnh khổ) kia cho người khác, vừa là “Pháp Thí”, vừa là “Vô Úy Thí”. Theo tư tưởng “vô phân biệt”, th́ “cho” cũng là “nhận”, nên người thực hành bố thí, cũng lănh nhận những ǵ ḿnh cho, và cũng giải quyết được những vấn đề của chính ḿnh.

Tựu trung, trước một cuộc sống càng ngày càng vượt ngoài tầm tay của ḿnh, quan niệm được rằng vui, khổ, chỉ là một vấn đề nội tâm, cho thấy mọi người đều có khả năng giải quyết vấn đề ấy, một cách b́nh đẳng, bằng sự quay về với chính tâm hồn ḿnh. Nói cách khác : phương pháp để giảm bớt lo sợ trước ngoại cảnh không cần t́m nơi ngoại cảnh, mà do một sự thay đổi nội tâm. Đó là một đóng góp lớn của Phật Giáo, đặc biệt trong thời hiện đại.


3) Buồn chán v́ mất ư nghĩa thăng hoa của công việc làm :

Như đă nói ở phần trước, con người thời đại bị ảnh hưởng bởi tính duy lợi của xă hội, và gần như chỉ c̣n biết làm việc cho riêng ḿnh. Điều này đưa đến những phản ứng buồn chán, v́, một lúc nào đó, sự thiếu vắng một ư nghĩa thăng hoa cho công việc làm khiến người ta không c̣n muốn cố gắng, không c̣n muốn đem hết sức lực, trí tuệ và sự khéo léo của ḿnh vào công việc làm nữa. Để làm ǵ ? Đó sẽ là câu hỏi ám ảnh tâm hồn con người ích kỷ, nh́n cuộc sống như một thời gian hưởng thụ sẽ chấm dứt trong bùn đất của nghĩa trang. Thật vậy, nếu cuộc sống ngắn ngủi này chỉ là một thời gian hưởng thụ th́ anh làm việc cho nhiều để làm ǵ, và dù cho có bị bắt buộc phải làm việc, th́ cần chi cố hết sức làm cho hay, cho tốt ? Anh phải dành thật nhiều thời giờ, thật nhiều tâm trí, để hưởng thụ những lạc thú của cuộc đời chứ ! Từ đó, người ta coi việc làm như một gánh nặng, một sự trừng phạt, một sự khổ đau, một cái giá phải trả để được hưởng thụ cuộc sống.

Đạo Phật lật ngược cái logique này lại, và dạy lấy chính công việc làm là mục đích của công việc làm. Không c̣n vấn đề làm việc để đạt đến một mục đích (hưởng thụ), mà chính sự làm việc đă là mục đích, là niềm vui của người làm việc. Các bà mẹ thường dễ cảm nhận ư tưởng này, v́ khi các bà làm công việc nội trợ, thí dụ nấu một bữa ăn ngon cho chồng con thưởng thức, th́ các bà rất dễ dàng cảm thấy hạnh phúc trong chính lúc làm việc ấy.

Mặt khác, khi dạy tập trung vào hiện tại, “sống từng sát na”, hay “từng hơi thở”, Đạo Phật dạy con người t́m hạnh phúc trong cái mà ḿnh hiện có, trong việc mà ḿnh hiện làm, dù cho ḿnh có đang làm việc, hay đang vui chơi giải trí. Lester Thurow, Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Tế của Đại Học MIT có trích một đoạn văn mà ông nói là lấy từ Kinh Điển Phật Giáo, như sau : “Bậc Thày trong nghệ thuật sống không hề phân biệt trong bản chất, giữa làm việc và vui chơi giải trí, giữa cố gắng và lạc thú, (...). Ngài t́m sự hoàn hảo trong bất c&#