CUỘC HÀNH TR̀NH CỦA MỘT ÔNG TÂY GIẤY

PHẦN MỘT : THỤY SĨ

——-O——-



            Rời Việt Nam sau ba ngày Tết Ất Măo, dưới bầu trời Sài Thành nắng gắt, nhưng lại ướt đẫm những hạt mưa rơi trong ḷng, tôi đặt chân xuống đất Pháp cùng ba người bạn cùng lớp. Hai cậu D. và L. khóc sướt mướt cho đến lúc tàu ghé Thái Lan, nay đă có vẻ ráo lệ. Bạn S., gốc Hoa, từ nhỏ đi học có bà vú túc trực trong trường chăm sóc, mắt vẫn c̣n hoen đỏ. Tôi từ giă các bạn, v́ chỉ ghé lại Paris vài giờ rồi chuyển phi cơ đi ngay Thụy Sĩ. Sau này tôi chỉ gặp lại L. một lần, D. và S. mất tích luôn. Ở Thụy Sĩ, tôi tá túc tại Lausanne vài ngày rồi chuyển về Fribourg.

DZUI HỌC NƠI THÀNH PHỐ BUỒN :

            Fribourg lúc ấy rất đông sinh viên Việt Nam, có lẽ khoảng 400 hay 500 mạng. Riêng phân khoa Kinh Tế nghe đâu đă chiêu mộ được trên 200 anh tài xứ Việt. Nhiều cậu bị đuổi trường ở các Cantons khác, nên mất quyền cư trú ở những nơi ấy, phải lang thang nhiều nơi, “dzui học” lắm chỗ, rốt cuộc chui về Fribourg. Thậm chí tôi gặp một “cụ” du học Thụy Sĩ từ thời thân mẫu tôi, đă từng đi nát nước Thụy Sĩ nay cũng ṃ về Fribourg, học Kinh Tế, năm thứ hai ! Những tên mới tới, gặp lúc Thụy Sĩ ra luật bắt phải qua một kỳ thi xác nhận tŕnh độ rồi mới cho ghi tên vào đại học, kỳ thi ấy lại tổ chức ở Fribourg, nên cũng tập trung về cái tỉnh khỉ ho c̣ gáy này.

            Quả thực nếu không có đám Mít, th́ Fribourg quả là một thành phố buồn. Buồn nhưng thơ mộng..."Thành phố buồn, nhớ không em ? Chuyện chúng ḿnh...” như lời rên rỉ của một bài hát (và biết đâu chừng của cả con tim người viết ?). Ở đây, vào mùa đông, cả thành phố phủ đầy tuyết trắng, nh́n chung quanh cũng toàn núi trắng, tâm hồn như tràn ngập một cảm giác tĩnh lặng. Người tu hành đi t́m thanh tịnh nơi núi non, kể cũng dễ hiểu, khi nh́n cảnh vật ở đây. Thật vậy, Fribourg, có phong cảnh gập ghềnh đồi núi, ngay cả trong thành phố cũng nhiều chỗ dốc. V́ thế, mùa đông bước ra đường mà không vững tấn là bốn vó chổng lên trời ngay, nhất là đối với những tên ma mới như tôi, không có giầy đi tuyết.

            Phải nói Thụy Sĩ nằm giữa hai rặng núi : Alpes ở phía Nam và Jura ở phía Tây Bắc, với nhiều đồi, thung lũng, và hồ lớn. Gần như ở đâu trên đất Thụy Sĩ cũng nh́n thấy núi, và nhiều nơi có hồ rất đẹp, như Lausanne và Genève, hai thành phố cùng nằm trên hồ Leman mà tôi tương đối biết rơ. Du khách đến Thụy Sĩ không thể bỏ qua hai nơi này.


LAUSANNE :

            Ở Lausanne đặc biệt trong thập niên 70 có quán cà phê đầy Mít, đến nỗi bạn có thể kêu anh bồi bản xứ đến, gọi “cafeda” để được thưởng thức ngay một ly cà phê đá, một món không bao giờ có ở các quán nước b́nh thường. Lausanne cũng là chỗ trú chân đầu tiên của tôi khi vừa đến Thụy Sĩ, trước Fribourg. Tôi ghé đến đây trong vài ngày đầu trên đất Thụy Sĩ, tại nhà một cựu trưởng phái đoàn chuyên viên Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam. Ông là một trí thức thông thái, khi phục vụ ở Việt Nam đă có một kỷ niệm khó quên là bị rớt trực thăng trong vùng CS, phải nằm trong rừng suốt mấy ngày đêm trước khi được cứu. Tối đầu tiên ông mời tôi đi ăn một món “đặc sản” của Thụy Sĩ là raclette, chủ yếu gồm fromage đặt trên vỉ nóng cho chảy ra, ăn với khoai tây, có khi thêm thịt nguội... Một món đặc sản khác gọi là “fondue” cũng là fromage nấu chảy trong một nồi rượu trắng với vài thứ lỉnh kỉnh tôi không nhớ hết, khi ăn cắm một mẩu bánh ḿ trên một cái nĩa, chấm vào nồi quay quay vài ṿng cho dính đầy fromage. Có lệ là hễ anh nào làm rơi mẩu bánh ḿ của ḿnh trong nồi th́ bị phạt ... Tôi cũng đă suưt “được” sinh sống ở Lausanne, khi thi đậu vào trường Bách Khoa (Polytechnique) của thành phố này, cùng với V. , bạn cùng lớp ở Việt Nam. Đến khi lănh giấy tờ ghi danh th́ mới thấy học phí quá xá đắt. Hỏi học bổng, th́ được trả lời phải học qua một năm xem sao rồi mới xét được. Tôi buộc ḷng quyết định đi t́m đường khác lập thân.


GENÈVE :

            Genève th́ là sanh quán của tôi, nên khi trở lại đây, tôi cảm thấy dâng lên trong ḷng một cảm giác là lạ. Th́ ra trên bờ hồ này tôi đă từng tập tễnh cầm tay bố mẹ dạo chơi, đă từng trầm trồ trước ṿi nước cao vút giữa hồ. Th́ ra ngọn đồi Petit Saconnex là đây, nơi tôi mở mắt nh́n ra cuộc đời, đối diện với trụ sở Liên Hiệp Quốc... Cần nói là Thụy Sĩ chưa gia nhập Liên Hiệp Quốc, mặc dù nhiều cơ quan LHQ đặt trụ sở ở nước này. Đến Petit Saconnex, tôi gặp lại những nữ tu đă từng chăm sóc tôi lúc nhỏ, dùng cơm trưa với họ, trong khung cảnh mà tôi đă biết, nhưng không c̣n nhớ. Các nữ tu th́ ngược lại, nhớ tôi rất rơ. Trong quá khứ, hàng năm các bà vẫn gửi quà về Việt Nam cho tôi vào mỗi dịp Giáng Sinh. Tôi cũng gặp lại bà vú nuôi, bây giờ đă già yếu, nhưng vẫn nỗ lực làm việc từ thiện giúp đỡ tha nhân. 

            Một sự t́nh cờ khiến cho một đêm tôi ngừng xe trên bờ hồ Léman, giữa Genève và Lausanne. Đêm hè không lạnh lắm, tôi ngả ghế xe ngủ một giấc. Những tia sáng đầu tiên của mặt trời mọc đánh thức tôi dậy. Tôi không thể ngờ được trước mặt tôi lại là một phong cảnh đẹp như vậy. Mặt trời hiện ra trên mặt hồ, với những rừng cây, giải núi, dần dần rơ nét. Cảnh vật này ảnh hưởng thật xâu đậm vào tâm hồn tôi. Có lẽ hôm đó tôi đă trở thành một con người khác, đă tái sinh, trên mảnh đất một lần đă thấy tôi sinh ra.

            Những nơi khác ở Thụy Sĩ mà du khách có thể đến chơi là các tỉnh quanh hồ Lucerne hay hồ Lugano (Lucarno và Lugano nằm trên hồ này là những nơi nghỉ mát rất nổi tiếng), quanh hồ Constance, hay tạt qua thủ đô Berne, hoặc ghé Zurich, thành phố lớn nhất Thụy Sĩ, có trường Polytechnique từng đào tạo ra Einstein, hoặc Bâle, hải cảng quan trọng nhất, nằm trên bờ sông Rhin. Interlaken cũng là một thành phố du lịch đẹp, nằm giữa hai cái hồ, và nh́n lên một dăy núi với ngọn Jungfrau cao hơn 4100 thước. Thật ra, nước Thụy Sĩ nhỏ xíu, nên một ngày có thể đi chơi nhiều nơi, thí dụ như từ Fribourg đi Berne chỉ mất khoảng 20 phút xe hơi, Fribourg đi Lausanne, khoảng hơn nửa giờ v.v...


ĐỜI SỐNG MÍT Ở FRIBOURG :

            Fribourg không phải là một chỗ dừng chân thông thường của du khách. Đây chỉ là một thành phố buồn nằm trong vùng nói lẫn lộn hai tiếng Pháp, Đức. Thụy Sĩ có bốn tiếng nói chính thức : Đức (65 % dân số), Pháp (20 %), Ư (12%) và Romanche (1%, nói ở bang Grisons). Trong Đại Học Fribourg, phần lớn các môn khoa học đều dạy bằng tiếng Đức, dường như chỉ có Thần Học và Kinh Tế Học là dùng Pháp Văn. Đa số sinh viên Việt Nam, có lẽ nhận thấy không dễ ǵ kiếm ăn được với môn Thần Học, nên thường chọn Kinh Tế. Xét cho cùng, Kinh Tế Học chẳng qua cũng chỉ là một loại Thần Học có đối tượng là ông Thần ... Tài mà thôi ! Phân khoa Kinh Tế lúc ấy c̣n có một Giảng Sư và một Phụ Khảo Việt Nam. Tôi cũng có biết một anh tu xuất học Triết, một anh khác học làm bếp, và một anh bạn Đại Hàn học...kịch nghệ. Cậu Đại Hàn này thường cùng với một anh Tàu Đài Loan và tôi ráp lại tập vơ với nhau, có khi mặc áo thung mỏng, thậm chí cởi trần chạy bộ dưới trời tuyết, để xem thử hàn tà có nhập nổi vào ḿnh không ? Đàn anh học làm bếp th́ hay đăi tôi ăn cơm, với món thịt kho độc đáo, v́ một lư do hy hữu : trước đó nhiều năm, lúc anh lên đường du học, trên máy bay buồn quá khóc sướt mướt th́ t́nh cờ gặp thân mẫu tôi đi công du cùng chuyến, an ủi anh ta, măi sau này anh vẫn nhớ.

            Đường phố Fribourg thời ấy rất nhiều bóng áo thâm chùng của các thầy tu và d́ phước. Trong vùng tập trung một số lớn nhà ḍng, và trường học Công Giáo. Tôi có đến thăm một cha Ḍng Châu Sơn từ Việt Nam sang ở nhà Ḍng Xi Tô gần đó. Sau này được biết các tu sĩ Xi Tô (khổ tu) Việt Nam (đến từ hai tu viện Châu Sơn và Phước Sơn) có lập một nhà ḍng riêng tại Thụy Sĩ, ở Orsonnens, nơi một thời tổ chức Đại Học Hè Việt Nam Hải Ngoại, với chương tŕnh rất đặc sắc. Ở Fribourg sau này cũng có một Phó Tế Việt Nam là thầy cũ của tôi, dạy môn Vật Lư (Phó Tế, Diacre, là một chức tu được lập gia đ́nh). Với màu sắc Công Giáo nổi bật ở vùng này, người ta dễ quên rằng gần một nửa dân chúng Thụy Sĩ theo đạo Tin Lành, và một vị Tổ Sư của tín lư này là Jean Calvin từng ngự trị và giảng dạy tại Genève, một trong ba thành phố lớn nhất của liên bang, cùng với Bâle và Zurich. Vào thời tôi vừa đến đây, khá đông sinh viên Việt Nam c̣n ở trọ nơi những lưu xá do các Linh Mục điều hành. Tối đến, các cha khóa cửa, khiến cho một lần tôi bị mắc kẹt bên ngoài, không vào được, giữa đêm đông tuyết giá, trong t́nh trạng vừa chân ướt chân ráo đến Thụy Sĩ chưa đầy một tuần. Nghịch cảnh tí hon này chẳng có ǵ đáng nhớ nếu nó không trở thành biến cố mở đầu cho một cuộc t́nh ngang trái...

            Nhiều đấng sinh viên Mít ở Thụy Sĩ thời ấy có đời sống rất dư giả. Có cậu mướn hẳn một hộp đêm tổ chức sinh nhật. Một bạn khác có chiếc xe đắt tiền đến nỗi cả Canton ấy chỉ có hai chiếc, ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa phải yêu cầu anh ta bán đi để khỏi mang tiếng cho cả cộng đồng. Một phần trong số các bạn này sang Thụy Sĩ “dzui học” chứ không phải du học, nên họ ngủ suốt sáng, đến trưa trưa mới ṃ dậy xuống quán gần đó ăn sáng. Sau đó, họ đi chơi, mua đồ hay “lắc tin” (đánh flipper), kéo Jackpot v.v... cho đến chiều chiều ... ăn trưa ! Muộn trong buổi tối, th́ họp nhau đánh bài, ăn nhậu đến thật khuya, măi gần sáng mới đi ngủ... Có lần anh nọ tuyên bố :“mất nước rồi, ta phải đi làm kiếm tiền sinh sống”. Nói là làm, anh ta đến ngay một tiệm ăn xin việc bồi bàn. Chủ tiệm nhận, bảo thử áo veste đồng phục của tiệm. Anh chàng thử qua, thấy rộng chật sao đó, không vừa ư, liền bảo anh chủ đợi chút, chạy sang tiệm may kế đó đặt ngay một bộ đồng phục cắt đặc biệt cho anh ta ! Cũng có anh chị nọ trước cảnh mất nước, lo lắng cho tương lai của ḿnh, nên quyết định đi ăn cơm phước thiện của bà sơ, cho đỡ tốn. Mỗi lần như vậy, họ mặc quần áo cũ, và đậu chiếc xe đắt tiền thật xa, đi bộ đến nơi ăn cơm “bà phước”... Một mối lo khác là đi xin trợ cấp xă hội. Cả một đám bạn chuyền cho nhau mượn một bộ đồ “dzin” cũ rích để đến sở Xă Hội xin xỏ cho dễ !

            Mấy tên ma mới, trong đó có tôi, thuộc loại nghèo chí tử, ra đi chỉ có 40 đô la trong túi, đúng như luật lệ quy định, giỏi lắm dấu diếm thêm được chút đỉnh, nên vừa yên chỗ ở là vội đi t́m việc làm ngay. Bạn V., học cùng lớp gặp lại nhau ở Fribourg, và tôi, cùng t́m được việc buổi tối đi từng nhà bán một cái kính đặt trước máy truyền h́nh, đồng thời làm buổi trưa ở Mensa, là quán cơm sinh viên của Đại Học. Công việc ở Mensa đem lại cho tôi bữa ăn nóng trong ngày, v́ khi ấy tôi đă giă từ các Cha, đến ở một lưu xá rẻ hơn, nhưng không cho ăn, và không được phép làm bếp, khiến một trong hai bữa ăn của tôi là bánh ḿ đồ hộp lạnh. Mensa đă có sáu cậu làm công Mít. Cả đám làm việc tà tà câu giờ, cho đến một hôm ông chủ nhận vào một chú da đen, làm việc quần quật như máy, nhanh hơn chúng tôi gấp ba bốn lần. Chúng tôi phải vội vă lôi cổ chú ta ra giải thích cái lư thuyết cao siêu của sự làm việc ăn lương giờ, để khuyên chú giảm bớt tốc độ rửa chén bát và lau chùi dội quét ! Ít lâu sau, tôi bỏ cả hai việc này và vào làm toàn thời gian cho một tiệm ăn Ư Đại Lợi trước nhà thờ Fribourg, tên là Boccalino. Với quy chế sinh viên, tôi không có quyền làm việc toàn thời gian, nên đương nhiên là làm lậu, lănh tiền mặt, và phải trốn vào phía sau khi thấy người nào có vẻ là nhân viên chính quyền ghé ngang...

            Mặc dù đa số sinh viên Việt Nam thời ấy ở Thụy Sĩ có lập trường chống CS, tôi cũng được biết vài anh thiên Cộng ở Fribourg, phần nhiều có việc phụ là tài xế Taxi. Buổi tổ chức Tết Ất Măo ở Fribourg có xảy ra một trục trặc là bị vài chú CS người Thụy Sĩ ṃ đến phá đám, ḥ hét đả đảo. Bạn P. có trách nhiệm giữ trật tự, khện cho các chú này một trận nhừ tử, phải nằm nhà thương. P. là người Việt Nam đầu tiên ở cái tỉnh tuyết lạnh này tới gơ cửa pḥng tôi ngay sáng hôm sau khi tôi vừa đến, để mời đi ăn sáng. Anh ta có một lớp Karaté, và rủ tôi đến cộng tác. Vụ P. đập mấy ông CS bản xứ bị đưa lên báo chí, với nhiều phiền phức, nhưng rồi cũng xong.


THÁNG TƯ ĐEN :

            Ngày 30 tháng 4 buổi sáng, trời đẹp, tôi mặc áo sơ mi nhẹ đi làm Mensa. Đến nơi thấy Mít ngồi đầy bực thềm Đại Học, cậu nào cậu nấy trông thiểu năo như đi đưa đám. Hỏi ra th́ biết Sài G̣n đă mất. Làm xong, trở ra, thấy các cậu lăng xăng, tụm năm tụm ba, như t́m kiếm điều ǵ... Một anh hỏi tôi : tụi này đi Berne, c̣n một chỗ trống, đi không ? Th́ ra chư vị muốn tức tốc đến ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa ở Berne để gia hạn giấy tờ trước khi bị CS tiếp thu. Đến Berne, trên con đường nhỏ dẫn vào ṭa Đại Sứ, người Việt Nam đứng đầy dẫy. Một làn khói đen bốc trên mái nhà. Vào trong, thấy các nhân viên sứ quán với sự giúp đỡ của kiều bào, phần lớn là sinh viên, đang hấp tấp đốt giấy tờ. Trên một cái quầy gần đó, vài con dấu được buộc vào những sợi dây, để ai muốn gia hạn cái ǵ cũng được. Bước trở ra, tôi nhận ra được anh chủ tịch Hội Sinh Viên Việt Nam tại Fribourg đang đứng khóc, trong khi vài người cảnh sát Thụy Sĩ tiến vào đ̣i chúng tôi phải rời khỏi căn nhà, để họ chuyển giao cho chính quyền Việt Nam miền Bắc. Trời trở lạnh với một cơn băo tuyết, khiến tôi trở về Fribourg trong cảnh tuyết phủ ngập đường, chỉ với chiếc áo mỏng. Không ai ngờ được buổi sáng trời nắng đẹp như vậy mà chẳng mấy chốc lại tuyết rơi trắng xóa thế này. Cũng không ai ngờ được tháng tư mà c̣n tuyết lạnh đến thế. C̣n bao nhiêu “không ngờ” khác, không hiểu có mấy người chung quanh tôi c̣n đủ tâm trí để mà nhận thấy sự thay đổi thời tiết kỳ lạ kia ?


BERNE VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ LIÊN BANG

            Berne, khoảng 130 000 dân, là thủ đô của Thụy Sĩ, và của bang Berne. Mặc dầu chỉ hơn 6 triệu rưỡi dân, Liên Bang Thụy Sĩ gồm tới 23 Bang, gọi là Cantons có chính quyền và luật lệ riêng. Khi tôi c̣n đang ở Thụy Sĩ th́ Liên Bang mới chỉ có 22 Bang, nhưng đang có chuyện dân chúng vùng tây bắc Berne, đ̣i tách khỏi bang này. Năm 1979, đ̣i hỏi này được chấp thuận qua một cuộc trưng cầu dân ư, và bang Jura ra đời. Trưng cầu dân ư là một thể thức sinh hoạt chính trị rất phổ thông ở Thụy Sĩ. Qua thể thức này, dân chúng của một Canton có thể quyết định sẽ thi hành hay gạt qua một bên những luật lệ liên bang. Luật pháp liên bang hay tiểu bang được bầu bởi những nghị viện. Có năm bang của Thụy Sĩ theo thể thức dân chủ trực tiếp, không có nghị viện, mà cử tri họp lại trực tiếp quyết định công việc của bang ḿnh bằng cách dơ tay ! Mức độ tự trị của các làng (commune) cũng rất cao, khiến người dân Thụy Sĩ trong thực tế có cùng một lúc ba loại quyền công dân : công dân liên bang, công dân tiểu bang, và công dân của làng ḿnh. Có thể kết luận rằng Thụy Sĩ có một tŕnh độ dân chủ rất cao. Tuy nhiên, măi bắt đầu từ thập niên 70, cho đến 1990, dần dần trên lănh thổ liên bang, các bà các cô mới được quyền bầu phiếu. Thụy Sĩ cũng có những cấm đoán kỳ lạ, thí dụ như cho đến năm 1973, ḍng Tên (Jésuite) của Giáo Hội Công Giáo La Mă bị Hiến Pháp Liên Bang cấm “hành nghề” ở Thụy Sĩ ! Ngược lại Thụy Sĩ vốn có truyền thống đón nhận và che chở những người ngoại quốc bị các chính quyền của họ đe dọa bắt bớ, tù đày, v́ tội chống đối. Truyền thống này khiến cho nhiều trí thức thượng thặng của Âu Châu từng đến tá túc dưới sự bảo bọc của Liên Bang, điển h́nh là Voltaire, một trong những tư tưởng gia nổi bật nhất của “thế kỷ ánh sáng”, bà de Stael, Giáo Chủ Calvin (đă nhắc đến ở trên), v.v... Thế nhưng, gần đây người ta lại phát hiện ra và trách cứ Thụy Sĩ đă tống xuất những người Do Thái chạy trốn Đức Quốc Xă, trong thời đệ nhị thế chiến !

            Tôi thường đến Berne thăm bà bạn học của thân mẫu tôi, lúc ấy đang làm công chức cao cấp trong bộ Tư Pháp Liên Bang. Bà gốc Do Thái, nhưng lại lấy một người Hồi Giáo, ḍng dơi tiên tri Mohamed, và vốn là một tiểu vương Ấn Độ đă mất ngôi. Ở Berne tôi được thăm viếng nhiều nơi, nhưng chỉ c̣n nhớ ngôi Thánh Đường cất từ Thế Kỷ 15 với nhiều dấu tích lư thú. Để di chuyển từ Fribourg đến Berne và ngược lại tôi thường đứng bên đường giơ ngón cái đón xe xin “quá giang”. Dần dần tôi t́m được một mánh lới là đứng chờ ở một cây xăng nơi lối vào đường xa lộ, và đến hỏi đi nhờ mấy anh dừng lại đổ xăng. Khi có sự nói chuyện trực tiếp, thường là người ta không từ chối, và hy vọng thành công tăng lên gấp bội. Cho đến nay, tôi vẫn luôn tin tưởng nơi hiệu năng của sự giao thiệp, đối thoại trực tiếp, mặc dù trong những hoàn cảnh khó khăn, kể cả những lúc bất đồng nghiêm trọng...

            Chính quyền Liên Bang nằm ở Berne được “lănh đạo” bởi một Chủ Tịch Hội Đồng Liên Bang, có nhiệm kỳ là...một năm, không được bầu lại ! Nếu được chọn lựa chắc bạn cũng đồng ư với tôi là ta nên chọn làm chủ tịch nước Đại Cồ Việt nhà ḿnh hơn là làm chủ tịch cái nước Thụy Sĩ quái gở này ! Bảy thành viên của Hội Đồng Liên Bang được bầu lên trong 4 năm bởi Quốc Hội, bao gồm hai Nghị Viện Liên Bang, một viện đại diên cho các Bang (mỗi Bang bầu vào hai trự), viện kia đại diện dân (bầu theo tỷ lệ dân số).


SỨC MẠNH QUÂN SỰ :

             Một điểm đặc biệt của Thụy Sĩ là màn đi quân dịch. Dù là một nước nhỏ xíu, nhưng các lân bang đều gờm Thụy Sĩ, v́ sức mạnh quân sự của những anh chàng có giọng nói và cử chỉ chậm chạp, nhừa nhựa này, nhưng nghe đâu lại có một khả năng chiến đấu rất cao. Cần biết rằng Thụy Sĩ có thể lập tức huy động bảy trăm ngàn quân chỉ trong ṿng 48 giờ, nhờ chính sách huấn luyện quân sự thường xuyên cho những công dân từ 18 đến 50 tuổi. Những “dân binh” ấy lại được cất giữ ở tư gia toàn thể trang bị súng ống của ḿnh ! Nếu tổng động viên, Thụy Sĩ có thể có được 1 triệu 1 trăm ngàn quân, bằng một phần ba quân đội đông nhất thế giới, là quân đội nhân dân Trung Hoa, và gấp đôi quân đội Pháp thời b́nh. Ở Thụy Sĩ người ta thường thấy các chàng trai bản xứ mới hôm trước làm thợ, dạy học, bán tạp hóa, hành nghề bác sĩ, kỹ sư v.v... , hôm sau vác ba lô đi tập lính. Quân đội Thụy Sĩ được trang bị rất tối tân, nhưng cũng có nhưng tṛ quái lạ như vẫn dùng chim bồ câu để truyền tin (cho đến năm 1996 th́ phải), và vẫn sử dụng xe đạp, với những đơn vị chuyên môn...đạp xe ! An Nam ta thời ấy hay đồn Thụy Sĩ có những hầm chứa lương thực và khí cụ dấu trong núi đủ để cho dân chúng trốn vào trong đó có thể cố thủ được nhiều năm, dù cho bên ngoài có đại chiến nguyên tử ! Dưới các chung cư của Thụy Sĩ th́ có hầm trú ẩn, nghe nói cũng chống được vơ khí nguyên tử. Những hầm này trong thời b́nh thường dùng để đặt máy giặt và xấy quần áo. Quan niệm của người Thụy Sĩ về thời b́nh khiến tôi không khỏi liên tưởng đến câu nói của Sử Gia Cổ La Mă Tacite : “Giữa những người đầy tham vọng và sức mạnh, ḥa b́nh chỉ là ảo tưởng, và trong cuộc chiến, kẻ mạnh nhất thường được coi là ôn ḥa chính trực nhất”.


LỊCH SỬ LIÊN BANG :

            Truyền thống quân sự của Thụy Sĩ gắn liền với truyền thống ôn ḥa, trung lập. Những điều này đều bắt nguồn từ lịch sử. Ở thời xa xưa, trên đất Thụy Sĩ ngày nay sinh sống một bộ tộc gốc Celte, thuộc đại gia đ́nh chủng tộc và ngôn ngữ Ấn Âu, gọi là Helvètes. V́ lư do đó, tên chính thức của Thụy Sĩ bây giờ là Liên Bang Helvétique. Tacite coi người Helvète cũng thuộc giống Gaulois. Sau nhiều ch́m nổi, lănh thổ của người Helvètes bị La Mă rồi bị những bộ tộc Germanique thôn tính, trước khi rơi vào tay người Franc (Pháp), rồi bị phân tán bởi những lănh chúa phong kiến. Vào thế kỷ 13, ba tiểu quốc của vùng này liên hiệp chống lại Lănh Chúa Rodolphe, với sự che chở của Hoàng Đế trị v́ Thánh Đế Quốc La Mă Germanique. Khổ nỗi Hoàng Đế băng hà, và người được bầu lên làm Hoàng Đế lại chính là anh chàng Rodolphe kia ! Chàng này dựng nên triều đại Habsbourg (đất dựng nghiệp nằm trên lănh thổ Thụy Sĩ hiện thời), với hậu duệ làm vua chúa nhiều nước Âu Châu và cả Mỹ Châu, như Maximilien, Hoàng Đế Mễ Tây Cơ vào thế kỷ 19 ! Ba anh tiểu quốc từng chống lại Rodolphe đệ nhất vội vă mở rộng liên minh quân sự, để đề pḥng bị xâm lấn. Năm 1315, quân đội liên minh sử dụng một loại vơ khí mới, gọi là Hallebarde, có lẽ giống cây kích của ông Lữ Bố nhà ḿnh, đánh bại quân của Triều đ́nh Habsbourg. Từ đó liên minh quân sự thành ra chặt chẽ hơn, với năm bang khác theo về, tổng cộng tám bang, trở nên tiền thân của một Liên Bang chính trị. Chính nhờ chế độ quân dịch bắt buộc đối với mọi người đàn ông từ mười sáu đến sáu mươi tuổi, mà tổ chức quân sự của Thụy Sĩ lúc đó trở nên hùng mạnh đến độ các nước lớn chung quanh phải nể v́. Thậm chí Thụy Sĩ c̣n xuất cảng quân đội của ḿnh sang các xứ khác, làm...lính đánh thuê ! Truyền thống này vẫn c̣n hiện hữu đến ngày nay, điển h́nh là trong Quân Lê Dương Pháp cho đến cách đây vài chục năm, và rơ rệt hơn nữa là đội quân pḥng vệ của Đức Giáo Hoàng và tiểu quốc Vatican, gồm toàn người Thụy Sĩ. Toán quân này trong những lễ lạc vẫn c̣n được trang bị bằng cây “kích” Hallebarde ! Thủ lănh của các đơn vị lính đánh thuê Thụy Sĩ một thời có quyền hành rất lớn tại Ư như chúng ta có thể đọc được trong các tài liệu của Machiavel. Năm 1499, Hoàng Đế Maximilien đệ nhất, một phần có lẽ v́ giận quân đánh thuê Thụy Sĩ đă theo Vua Pháp giết cha vợ ḿnh (Charles le Téméraire), nên đ̣i xét lại quy chế đặc biệt của Thụy Sĩ. Lập tức vị Hoàng Đế tài danh này bị quân Thụy Sĩ đập cho một trận nhừ tử, và phải tức tốc kư ngay một ḥa ước công nhận sự độc lập “vĩnh cửu” của Thụy Sĩ !


TRUYỀN THỐNG DUY LỢI :

            Cái nghề đánh thuê khiến cho Thụy Sĩ khi th́ theo bên này, lúc lại về với phe đối nghịch, dần dà dẫn đến một trạng thái trung lập, mà cho đến nay, người ta vẫn thường coi như truyền thống của Thụy Sĩ. Đó chẳng qua là trung lập duy lợi, v́ trong một cuộc chiến, như Đệ Nhị Thế Chiến, Thụy Sĩ đă không ngần ngại kín đáo trợ giúp phe này hay phe khác, v́ quyền lợi.

            Bên Pháp người ta thường diễu người Thụy Sĩ nói năng, cử chỉ, đều chậm chạp. Có lẽ tính t́nh ấy thuận lợi cho những nghề nghiệp tiêu biểu ở Thụy Sĩ, như nghề làm đồng hồ và nữ trang. Tôi cũng nhận thấy họ tiêu xài rất kỹ, thích để dành tiền. Phải chăng v́ thế mà ngành ngân hàng Thụy Sĩ phát triển mạnh, đến nỗi gần như trở thành một huyền thoại ? Các anh lănh đạo độc tài khắp nơi hút máu dân chúng được đồng nào là đều đổ xô về gửi tiền trong ngân hàng Thụy Sĩ. Đến khi bị lật đổ, thường là bị giết, th́ các món tiền xương máu của người dân mà họ đă nhẫn tâm tước đoạt, lọt gọn vào hầu bao của các chủ ngân hàng Thụy Sĩ ... Cho đến cách đây vài năm, tiền bạc của Mafia, buôn lậu, trộm cướp khắp nơi cũng được đem đến “rửa” ở vài trung tâm ngân hàng danh tiếng, trong đó có Thụy Sĩ. Một thời tiền bạc bất lương đem vào các ngân hàng này chẳng ai thèm hỏi xuất xứ, cũng chẳng ai màng kiểm soát lư lịch người gửi, khiến cho đồng tiền kia, sau khi chui vào hệ thống ngân hàng hợp pháp, hoàn toàn trở thành hợp pháp, và có thể được dùng để đầu tư vào những hăng xưởng, dịch vụ b́nh thường.



RỜI THỤY SĨ :

            Tôi quyết định rời Thụy Sĩ khi thấy con đường ăn học ở nước này vượt ngoài khả năng kiếm tiền của tôi. Pḥng lưu xá đắt, quán cơm sinh viên đắt, tiền học đắt, đời sống nói chung rất đắt, đi làm th́ bị đủ mọi cấm đoán, giấy cư trú gia hạn nhỏ giọt, mỗi lần xin gia hạn là lại phải x́ tiền ra... Tôi buộc phải nghĩ đến một phương kế khác. Kịp lúc đó, T., bạn học cùng lớp, và ngồi cạnh chỗ trong lớp, từ Pháp viết thư sang, cho biết bên Pháp mọi sự đều dễ dàng hơn cho sinh viên ngoại quốc nghèo như chúng tôi : lưu xá và quán ăn sinh viên rẻ mạt, học phí tượng trưng, giấy tờ cư trú cũng dễ dăi. T. đang học Y Khoa năm thứ nhất ở Rennes, và sẵn sàng ghi tên học cũng như giữ chỗ ở sẵn cho tôi. Trong điều kiện ấy, tôi gần như buộc phải đi Pháp. Vấn đề là tôi không thể xin được giấy tờ chính thức vào sinh sống ở Pháp. Tuy nhiên có một giải pháp rất đơn giản : nhập cảnh lậu ! Tựu trung : t́nh cảm của tôi với nước Pháp là một cuộc t́nh vụng trộm, nhưng kéo dài...


KẾT :

            Nhiều năm sau, Thụy Sĩ đă đổi khác, đa số các “cậu” đă dời đô sang Mỹ. Các quán nước không c̣n nhộn nhịp tiếng Mít. Đại học cũng vắng bóng mầm non, mầm già của đất nước, du học và dzui học lẫn lộn... Không c̣n những chú ma mới ngờ nghệch như tôi dạo nào, những tên ma mới bị đám cựu trào lừa cho nghe máy trả lời điện thoại tự động, cứ tưởng người thật, vội ấp úng chào hỏi, cảm ơn lia lịa ! 

Bây giờ là thời của các gia đ́nh thuyền nhân tỵ nạn CS, và của vài quan Mít già thuở xa xưa, đă từ lâu giă từ đời sống sinh viên, và chọn nơi này làm quê hương... 


Nguyễn Hoài Vân

27/10/2002

Trở về Mục Lục