MỘT BÀI THƠ CỦA PAUL VERLAINE

—-o—-



            Thi hào Paul Verlaine (1844-1896) sáng tác bài thơ này (*) lúc ông bị bắt giam v́ đă dùng súng bắn bị thương bạn ḿnh là nhà thơ Arthur Rimbaud.

                            Ngay bốn câu đầu :

Bầu trời trên mái ngói
Thật xanh, thật êm tịnh
Cành cây trên mái ngói
Đong đưa tàu lá

            người ta đă h́nh dung được khung cảnh giam cầm của tác giả. Trong tù, ông chỉ có một kẽ hở để nh́n ra thế giới bên ngoài : đó là một cửa sổ nhỏ, đặt trên cao, sát trần nhà để phạm nhân khó có thể cưa chấn song vượt ngục. Tất cả trời đất vạn vật đều đến với người tội phạm qua khung cửa sổ tí hon này. Nh́n nó, giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, thi sĩ thấy ǵ ? Trước hết, ông thấy trời xanh. Thật ra, dù cho trời có mây, cũng chưa chắc ông đă thấy, v́ khung cửa sổ quá nhỏ, thu hệp tầm nh́n của ông vào một khoảng trời hạn chế. Và giả sử có thấy mây mù cuốn gợn đi chăng nữa, chắc ông cũng chẳng buồn ghi nhận, v́ khoảng trời mà ông muốn chiếu rọi bằng tâm hồn tù tội của ông là một bầu trời xanh thẳm, không mây, êm tịnh như mặt hồ không một gợn sóng. Đó phải chăng chính là ước vọng sâu kín nhất của ông sau hồi dao động : t́m lại một tâm hồn vắng lặng, trống trải, êm tịnh, dứt bặt các suy tư dằn vặt, như t́m lại trời xanh sau cơn băo tố ?

            Qua khung cửa sổ pḥng giam, ngoài h́nh ảnh trời xanh len lỏi đến viếng thăm người tội phạm, c̣n có một cành cây đong đưa tàu lá, trên một mái nhà. Cảnh vật chỉ có thế : trời, cây, và mái nhà. Từ ba yếu tố hiện thực này, người thi sĩ phải tự tạo nên cho ḿnh một khung cảnh sống, một “vũ trụ” khả dĩ đối nghịch lại được với căn pḥng biệt giam lạnh lẽo, cô đơn. Ta nhận thấy nỗ lực này qua bốn câu kế tiếp :

Cỗ chuông trên bầu trời ta thấy
Lặng lẽ ngân nga
Con chim trên cành cây ta thấy
Hót khúc âu sầu

            Verlaine không thấy chuông, cũng chẳng thấy chim, mà chỉ thấy trời và cây. Cũng có thể nhận xét : thi sĩ không dùng chữ “tôi” (je) mà dùng chữ “người ta” (on): chủ quan với khách quan ở đây hoàn toàn lẫn lộn. Nh́n trời, ông tưởng tượng cỗ chuông với tiếng ngân nga vọng đến pḥng giam. Rồi nh́n cành cây ông h́nh dung chú chim đang rót những âm thanh sầu thảm vào tâm hồn ḿnh.

            “Vũ trụ” của phạm nhân loanh quoanh chỉ bấy nhiêu, như lời thơ của một người tù khác, làm trong khám tử h́nh Côn Sơn :

Tảo khởi loạn văn quần tước táo
Cao song viễn kiến vũ không minh
Sơn đầu thảo mộc giai xuân sắc
Ngục lư lăo thanh nhất tụy h́nh

                            Dịch :

Thức sớm nghe chim kêu ríu rít
Nh́n qua song sắt thấy trời xanh
Đầu non cây cỏ đều xanh tốt
Trong ngục trẻ già một tụy h́nh



Và :

Triêu triêu tự triêu triêu
Nhật nhật không tự tiêu
Môn ngoại nhàn phi điểu
Ngục trung nhân tiệm điêu

Dịch :

Sáng ra rồi lại sáng ra
Ngày đi ngày lại trôi qua dễ dàng
Ngoài trời chim lượn rảnh rang
Người ngồi trong khám dung nhan héo dần

(Trần Văn Ân)

            Đọc các đoạn thơ này, ta gặp lại trời xanh với khung cửa sổ trên cao (cao song), gặp cây (sơn đầu thảo mộc), gặp chim (nhàn phi điểu), đối lại với t́nh cảnh người tù co ro trong khám. Cảnh tù quả thực chẳng có ǵ cả, ngoại trừ tâm t́nh người tội phạm. Đó là “cảnh không cảnh”, chỉ có t́nh. T́nh chính là cảnh.

            Nếu Verlaine là một thi sĩ Việt Nam hay Trung Hoa, th́ có lẽ ông đă chấm dứt bài thơ ở câu thứ tám trên đây, với tiếng chim hót sầu thương. Thơ, và có lẽ cả hội họa, của người Đông Á thường nặng về gợi ư chứ không cố gắng miêu tả chính xác, dù cho đó là tả t́nh hay tả cảnh. Người ta nói thơ của người Đông Á súc tích, nhưng thiếu chính sác. Tuy nhiên, sự thiếu chính sác này lại là cái hay của nghệ thuật Á Đông, v́ nó dành cho người đọc rất nhiều chỗ trống để “đi vào” tác phẩm mà ḿnh đang thưởng thức. Người đọc có thể đặt tâm hồn ḿnh vào những chỗ trống ấy, để hiện diện trong chính tác phẩm. Bài thơ của một thi hào Đông Á “sống” nhờ những khoảng trống kia, v́ chúng giúp người đọc trở thành một thành phần của bài thơ, tức đem lại cho tác phẩm một thành tố sống động, có khả năng đổi thay, biến hóa.

            Nhưng, Verlaine là người Pháp. Ông đă cảm thấy cần mô tả t́nh cảm của ông một cách rơ ràng hơn, với những vần thơ kế tiếp :

Chúa ơi ! Chúa ơi ! Cuộc sống đang diễn ra nơi ấy
Giản dị và b́nh thản
Và những tiếng x́ xào êm ả kia
Đến từ thành phố

            Sau khi đă vẽ lên cảnh vật nơi ḿnh bị giam cầm, thi sĩ càng ư thức ḿnh đang bị bỏ rơi bên ngoài cuộc sống. Nơi đây, chỉ có một mảnh trời xanh nhỏ, với cành cây phủ trên mái nhà, trong khi ở đó, ở một nơi chốn hoàn toàn xa cách, cuộc sống êm đềm đang diễn ra. Không có Verlaine trong cuộc sống này, dù cho đó chỉ là cuộc sống b́nh thường của mọi con người. Đau đớn ! Người tù chỉ c̣n biết kêu cầu đến Chúa, đến người Cha trên trời của ḿnh, như một đứa trẻ ngă đau, vừa khóc vừa dang tay đón chờ sự săn sóc yêu thương của cha mẹ. Ông đă lập đi lập lại “Chúa ơi” đến hai lần, để nhấn mạnh nơi lời kêu gọi ấy, để người đọc có thể quả quyết đó không phải chỉ là một thán từ thông thường trong ngôn ngữ hàng ngày (kiểu như :“Chúa ơi”! đă tám giờ, phải mau đi làm kẻo trễ !). Cũng cần nói rơ là bài thơ này nằm trong tuyển tập “Sagesse”, được sáng tác lúc Verlaine vừa t́m lại được niềm tin nơi Thiên Chúa.

            Trong bốn câu cuối :

Anh đă làm ǵ, hỡi anh kia,
Mà măi triền miên than khóc ?
Này, anh kia, anh đă làm ǵ
Với tuổi xuân xanh ?

            Verlaine không những thấy ḿnh cách biệt với cái xă hội con người đang sống b́nh thản ở một góc trời nào đó không có ông, mà c̣n tự cảm thấy xa lạ với chính ḿnh. Cái con người mà ông mơ ước trở thành lúc c̣n trong lứa tuổi xuân xanh, hoàn toàn xa lạ đối với Verlaine của ngày hôm nay, một tội phạm bị giam cầm trong ngục tối. Từ những ước mơ của thời niên thiếu, ông tỉnh giấc để nhận thấy ḿnh không c̣n là chính ḿnh nữa, mà là một cái ǵ kỳ quái, ghê tởm, chưa bao giờ từng hiện hữu trong tâm tư.

            Anh đă làm ǵ với tuổi xuân của anh ? Đó là một câu hỏi mà mỗi người chúng ta đều có lúc tự đặt ra cho ḿnh, với một chút nghẹn ngào. Trời đất hết xuân này c̣n xuân khác, trong khi đời người chỉ có một mùa xuân... Mà ta đă làm ǵ với tuổi xuân ấy ? Phải chăng không cần phải ngồi tù như Paul Verlaine, vẫn có một cái ǵ đó đang giam cầm cuộc đời ta, một cái ǵ mà ta không hề bao giờ nghĩ đến lúc xuân thời ?

            Verlaine là một người tội phạm, một kẻ trác táng, bị xă hội con người lên án. Nhưng, tiếng kêu “Chúa ơi !” của ông nhắc nhở cho mọi con người nhớ lại rằng luật pháp của xă hội chỉ là một sự tạm bợ, một điều bất đắc dĩ, như lời Đức Khổng Tử : “Sử vô tụng hồ ?” (Giả sử không c̣n cần luật pháp để kiện tụng nữa th́ hay biết mấy ?) Verlaine kêu cầu đến Chúa như đứa con hư đốn trong Phúc Âm sau khi tiêu phá hết gia tài của cha ḿnh, lê lết mảnh thân tàn về nhà. Người cha nhân từ không hỏi tội đứa con, không tính sổ sách để đ̣i nợ, và trừng phạt một cách ṣng phẳng như xă hội con người thường làm, mà chỉ mở rộng ṿng tay và đăi một bữa tiệc thật lớn để đón mừng người con yêu dấu. Thật vậy, ṣng phẳng là kết quả của sự tính toán nhỏ mọn của con người, chứ Thiên Chúa nào cần phải ṣng phẳng ? Đức Ky Tô chẳng đă từng dạy trả lại một cái tát bằng cách đưa má bên kia, trả lại sự hận thù bằng t́nh yêu, và trong một dụ ngôn, Ngài chẳng đă từng ví Thiên Chúa như vị Chủ Điền kia, trả cho anh thợ làm việc từ sáng sớm với anh thợ chỉ mới vào làm lúc xế chiều cùng một đồng lương không hơn không kém ? Tất cả là của Ngài rồi, Thiên Chúa c̣n cần ǵ phải tính toán ṣng phẳng, chi li ? Đối với Ngài chỉ có sự trở về của đứa con hư đốn, cũng như tiếng gọi “Chúa ơi !” của người tội phạm Paul Verlaine. Tức là chỉ cần một sự thay đổi nội tâm, là con người có thể có được tất cả.

o

            Khi đang suy nghĩ về bài thơ này, th́ t́nh cờ tôi nghe được trong đài truyền thanh một đoạn tin loan báo đang có sự sửa soạn phong Á Thánh cho một kẻ sát nhân. Ông này, người Pháp, con nhà khá giả, hồi đầu thế kỷ đă đánh cướp nhà băng và giết người trong lúc kháng cự với cảnh sát. Ra ṭa, ông bị kết án tử h́nh. Nhờ ảnh hưởng của Cha Tuyên Úy nhà tù, ông đă thay đổi hẳn con người ḿnh, để ĺa đời trong thánh thiện. Nhiều chứng nhân đă khẳng định sự thay đổi này, và nếu tôi không lầm, th́ Đức Hồng Y Lustiger hiện chủ tŕ cho hồ sơ phong Thánh ấy. Cũng như Verlaine, kẻ sát nhân này đă bị con người lên án. Nhưng sự phán xét của Thiên Chúa không thể lệ thuộc vào sự kết án của con người. Và ông, cũng như Verlaine đều biết điều đó.
Quả thực, toàn bài thơ của Verlaine chỉ quy vào hai chữ :  “Chúa ơi !”.

NGUYỄN HOÀI VÂN
22/2/1995

        (*) Nguyên tác :

Le ciel est, par dessus le toit,
Si bleu, si calme
Un arbre, par dessus le toit,
Berce sa palme.

La cloche, dans le ciel qu'on voit,
Doucement tinte.
Un oiseau, sur l'arbre qu'on voit
Chante sa plainte.

Mon Dieu, mon Dieu, la vie est là
Simple et tranquille
Cette paisible rumeur là,
Vient de la ville.

Qu'as-tu fait, ô toi que voilà
Pleurant sans cesse,
Dis, qu'as-tu fait, toi que voilà
De ta jeunesse ?

Trở về Mục Lục