HOÀNG HẠC LÂU

—-o—-

 

Bài thơ rất nổi tiếng này của Thôi Hiệu, đời Đường (mất năm 754) gồm tám câu bảy chữ, như sau :

                                                Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

                                                Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu

                                                Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

                                                Bạch vân thiên tái không du du

                                                T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

                                                Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

                                                Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?

                                                Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Có rất nhiều bài dịch ra chữ nước ta, xin chọn ba bài :

 

        Bài dịch của Tản Đà :  

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Băi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai ?

 

        Bài dịch của Vũ Hoàng Chương :  

Xưa Hạc vàng bay vút bóng người

Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi

Vàng tung cánh hạc đi đi măi

Trắng một màu mây vạn vạn đời

Cây bến Hán Dương c̣n nắng chiếu

Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi

Gần xa chiều xuống đâu quê quán

Đừng dục cơn sầu nữa sóng ơi !

   

        Bài dịch của Trần Văn Ân :  

Người xưa cỡi hạc đi đâu tá

Hoàng Hạc lâu nay vẫn c̣n đây

Một phút hạc vàng thăm thẳm biệt

Ngàn năm mây trắng lững lờ bay

Hán Dương cây tỏ sông quang tạnh

Anh Vũ băi mờ cỏ mướt dầy

Chiều quạnh đâu là hương lư cũ

Trên sông khói sóng năo ḷng này. 

 

LƯ BẠCH VÀ PHÀM PHU :

Tương truyền thi hào Lư Bạch đến lầu Hoàng Hạc, thấy bài thơ của Thôi Hiêu ghi ở đây đă quá đầy đủ, không c̣n thêm ǵ được nữa, nên chỉ khiêm tốn nhắn lại rằng :

                                              “Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc

                                                Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”

                                            (Cảnh trước mặt, không thể nói ra được,

                                             V́ Thôi Hiệu đă nói hết cả rồi trong bài thơ đề ở trên đầu)

 

Thật ra, không phải dễ ǵ nh́n thấy nổi cái “đă được nói hết” trong bài thơ, như Lư Bạch. Năm mươi sáu chữ trong bài của Thôi Hiệu làm sao tả hết nổi cảnh vật vô cùng phức tạp và đa dạng quanh lầu Hoàng Hạc ? Làm sao quả quyết được rằng bài thơ “đă nói hết ?” Nếu chỉ chấp ở cảnh vật, th́ điều này quả thực là không thể hiểu nổi. Kẻ phàm phu chỉ biết đến cảnh, nên vẫn nghĩ Thôi Hiệu làm thơ v́ mến mộ cảnh lầu Hoàng Hạc, v́ say mê trước vẻ đẹp của băi Anh Vũ, đất Hán Dương, chứ nào có biết đâu cái ư của ông là khinh rẻ lầu Hoàng Hạc, là chẳng hề rung động trước những cảnh đẹp kia ?

Và cũng v́ chỉ biết đến cảnh, nên họ có thể không ngần ngại khổ công mài mực chấp bút, đề thêm hàng triệu bài thơ tán dương cảnh vật kia dưới mọi khía cạnh, những tưởng được đứng kề bên Thôi Hiệu ! C̣n bậc Đại Trượng Phu thấy cảnh, biết ngay cái điều phải nói ra, mà người khác đă nói rồi, th́ liền cúi đầu phục thiện. Quư lắm thay ! 

 

ĐẬP TAN LẦU HOÀNG HẠC !

 Trong tám câu, Thôi Hiệu chỉ nói đến Lầu Hoàng Hạc có một lần, ở câu thứ hai. Đối với ông, Lầu Hoàng Hạc chỉ là cái dư thừa của cổ nhân, c̣n để lại sau khi đă khuất bóng. Người xưa đă cưỡi hạc bay đi, ngôi lầu này bất quá chỉ là cái thừa thăi c̣n lưu lại, cho bọn “rởm”, bọn “làm dáng”, tụ tập ở đó, để cùng nhau gật gù suưt soa, cho ra cái vẻ trí thức, sành điệu mà thôi ! Khinh Lầu Hoàng Hạc, cũng là khinh cái bọn “rởm” này vậy.

Kim Thánh Thán, khi phề b́nh hai câu đầu của bài Hoàng Hạc Lâu, có cho là Thôi Hiệu đă lấy ư nghĩa của một đoạn trong sách Trang Tử, như sau:

 

“Cái tôn quư chẳng thể truyền lại được của cổ nhân, th́ đă mất rồi, c̣n những điều mà ngài đang đọc đây, chỉ là những cặn bă của cổ nhân đấy thôi !”

(Thiên Đạo, lời Luân Biện nói với Tề Hoàn Công)

 

Lư Bạch cũng từng có ư đạp tan lầu Hoàng Hạc :

 

“Ngă thả vị quân chùy toái Hoàng Hạc Lâu”

(Tôi cũng v́ ngài mà đập tan lầu Hoàng Hạc)

 

NGÀN NĂM MÂY TRẮNG LỮNG LỜ BAY :

Câu thứ ba của bài thơ có điểm rất đặc biệt, là dùng liên tiếp sáu chữ “trắc” trong một câu thơ bảy chữ, bất chấp luật bằng trắc. Bút pháp ấy khiến câu thơ mang một sức mạnh khác thường. Để làm ǵ ? Để nhấn mạnh rằng : người xưa đă đi mất tiêu rồi ! Không c̣n trở lại được nũa ! “Nhất khứ” là “một đi”, “bất phục phản” là “không trở lại”. Câu này nói lên cái lẽ Vô Thường của mọi người, mọi việc, kể cả những bậc Thánh Nhân. Đoạn trích ở trên trong sách Trang Tử cũng thế.

 

Câu thứ ba này đối với câu thứ tư :

 

“Bạch vân thiên tái không du du

(mây trắng ngàn năm vẫn măi trôi)

Thánh Nhân đă mục nát, Khổng, Lăo, Trang, đều đă về với cát bụi, nhưng, hăy ngửa mặt lên, hăy “nâng tâm hồn lên” (sursum corda !), th́ sẽ thấy cái Đạo ẩn tàng trong đời sống của Thánh Nhân tự ngàn xưa, nay vẫn c̣n đó, như mây trắng kia, trải qua hàng ngàn năm mà vẫn c̣n măi măi nổi trôi, đời này sang đời khác, chẳng lúc nào ngưng. Đó là cái Thường Hằng, đối với lẽ Vô Thường của câu ba. Vậy, đừng gục đầu tôn sùng những cặn bă, những cành khô lá héo của Thánh Nhân c̣n lưu lại, mà hăy nh́n lên cái Đạo lớn luôn măi trường tồn đă dẫn dắt bước chân của các Ngài. Hăy ngửng đầu lên, nh́n mây trắng, đám mây đă từng nâng đỡ cánh hạc của người xưa, nay vẫn c̣n đây, chứ đừng gục mặt tôn sùng ngôi Lầu Hoàng Hạc của bọn “rởm”.

 

CHẲNG THÈM RUNG ĐỘNG TRƯỚC CẢNH HÁN DƯƠNG, ANH VŨ !

Hai câu năm và sáu, tả cảnh hàng cây trên bến Hán Dương nổi bật bên bờ sông quang tạnh, và băi Anh Vũ, với cỏ thơm xum xuê tươi tốt. Tưởng rằng tác giả bồi hồi cảm mến cảnh đẹp ấy ư ? Không ! Ông chẳng coi chúng ra ǵ cả. V́ sao ?

V́ (câu 7):

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?”

(Chiều xuống đâu là quê quán cũ ?)

 Thôi Hiệu thương nhớ quê hương ḿnh, nên có xá ǵ “cây bến Hán Dương” với “cỏ bờ Anh Vũ” ? Điều mà ông mơ tưởng là quê hương ông, chứ nào có để tâm đến cảnh vật trước mắt ? V́ thế, ông nh́n cảnh rực rỡ tốt tươi ấy mà chỉ tự hỏi :“Đâu là quê quán cũ ?” (hương quan hà xứ thị ?)

Chữ “chiều xuống” (nhật mộ), được dùng ở đây chính là cái vừa hiện hữu nơi bến Hán Dương với bờ Anh Vũ, mà cũng hiện hữu nơi quê hương của tác giả, chẳng khác nào đám mây trắng nơi câu bốn, đă từng hiện hữu lúc người xưa cưỡi hạc bay đi, mà nay vẫn c̣n hiện hữu khi ta ngửa mặt nh́n trời. Mây trắng thường hằng trong thời gian, “nhật mộ” thường hằng trong không gian, cả hai đều đưa con người ra khỏi cảnh vật trước mắt...

Nói cách khác, cây bến Hán Dương th́ “rực rỡ” (lịch lịch), cỏ bờ Anh Vũ th́ “tốt tươi” (thê thê), nhưng chúng vẫn mờ nhạt trong tâm hồn Thôi Hiệu, chẳng khác nào Lầu Hoàng Hạc đă nói ở trên. Như ông diễn bày trong câu kết :

“Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

(Trên sông khói sóng năo ḷng này)

Khói sóng là ǵ ? nếu không phải là nỗi buồn nhớ quê của tác giả ? Chính khói sóng đă làm mờ đi cảnh vật trước mắt ông, khiến cho những cảnh “rực rỡ”, và “tốt tươi” kia, vẫn chẳng làm thỏa măn tâm hồn ông, khiến ông vẫn tự hỏi :“hương quan hà xứ thị ?”

Khói sóng làm cho người buồn (sử nhân sầu), nhưng nỗi sầu đó, lại chính là khói sóng. Cái cao diệu ở chỗ đó.

TÓM LẠI :

 Bốn câu đầu nói chuyện “người xưa”, và đập tan ngồi lầu Hoàng Hạc trước mặt. Bốn câu sau nói chuyện “người nay”, và cũng xóa nḥa cảnh vật rực rỡ trước mặt. Ở trên th́ “mây trắng măi măi bay”, ở dưới th́ “màn chiều buông phủ”. Người xưa không c̣n nữa, quê hương cũng xa vời, nhưng mây trắng vẫn bay, màn chiều vẫn ngày ngày buông phủ...

Tựu chung, trong sự biến đổi, hoại diệt, vẫn có cái ǵ trường cửu, bất biến. Phải chăng ư thức cái trường cửu ấy, giúp ta thoát ra ngoài thực tại, và nh́n trở lại thực tại với một cái nh́n khác ?  

NGUYỄN HOÀI VÂN

28/6/1994

Các bài liên hệ :       Phượng Hoàng Đài

                                  Long Tŕ

Trở về Mục Lục