LONG  TR̀

—-o—-


        Bài thơ này đă từng được ngờ là nguồn gốc của các bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và Phượng Hoàng Đài của Lư Bạch. Tác giả Thẩm Thuyên Kỳ, mất năm 713, là một trong những người đă đề xướng ra thể thơ Đường Luật.
Phiên âm chữ Hán của bài thơ như sau :


Long tŕ dược long long dĩ phi
Long đức tiên thiên thiên bất vi
Tŕ khai Thiên Hán phân Hoàng Đạo
Long hướng thiên môn nhập Tử Vi
Để đệ lâu đài đa khí sắc
Quân vương phù nhạn hữu quang huy
Vị báo hoàn trung bách xuyên thủy
Lai triều thử địa mạc đông quy.

                    Dịch nghĩa :

Ao Rồng

Từ nơi ao rồng, rồng nhảy vượt lên, và bay vút đi
Đức sáng của rồng vốn có trước trời đất vạn vật, nên Trời
cũng chẳng trái sai
Ao ấy mở ra giải Ngân Hà, và vạch đường đi cho mặt trời
C̣n rồng th́ hướng đến cửa trời mà nhập vào ṭa Tử Vi
Dinh thự lâu đài của Đấng Thánh Vương đầy khí sắc
Và bầy chim của Ngài cũng được chan ḥa ánh sáng
Nay báo cho tất cả sông ng̣i trong hoàn vũ biết :
Hăy về chầu nơi đây, chứ đừng chảy sang hướng Đông nữa !

QUẺ CÀN :

Tương truyền vua Minh Hoàng đời Đường có làm ra khúc Long Tŕ Nhạc. Thẩm Thuyên Kỳ chắc là đă nhân theo đó mà sáng tác bài này để nói lên niềm tin mạnh mẽ của ông vào cái “Chính Khí” vốn đầy trong trời đất, một lúc nào đó sẽ biểu lộ qua bậc lănh tụ anh minh, tài đức phủ trùm thiên hạ.

Để diễn tả cái “Chính Khí” ấy, ông đă mượn h́nh tượng của quẻ Càn trong kinh Dịch. Dịch lư là một thành phần quan trọng của tư tưởng Đông Phương, xin nhân dịp này xét qua vài sắc thái cơ bản :

Tiền nhân ta thường dùng một hệ thống biểu tượng để diễn tả mọi sự vật hữu h́nh cũng như vô h́nh, trong thế giới vật chất cũng như trong phạm trù tâm lư. Hai biểu tượng đơn giản nhất là Âm và Dương. Trong Dịch lư, người ta vẽ một gạch liền để chỉ Dương, và một gạch đứt để chỉ Âm. Rồi người ta chồng những gạch đứt và gạch liền lên nhau để làm thành những “quẻ”, gồm ba, rồi sáu gạch, mỗi gạch gọi là “hào”. Quẻ Thuần Càn nói đến ở đây gồm 6 gạch liền, tức là 6 Hào Dương, chồng lên nhau. Đó là đầu mối của một hệ thống gồm 64 quẻ. Theo Chu Hy, th́ Càn “sánh với Trời”. Kinh Dịch nói: “Lớn thay cái Đạo Nguyên Thủy của Càn, nguồn của vạn vật, thống suất toàn Vũ Trụ”. Tức là sự biến hóa của quẻ Càn (bằng cách đổi một số gạch liền thành gạch đứt) cho ra 63 quẻ khác, tượng trưng cho mọi sự vật trong vũ trụ. Ở đoạn khác lời Kinh nói: “Đạo Càn biến hóa, làm cho tính mệnh muôn vật đều chính xác, giữ ǵn được sự điều hợp thái ḥa trong vạn hữu”. Mặt khác, những ǵ quẻ Càn tượng trưng, gọi là “Đức” của quẻ Càn, cũng chính là gương sáng cho người Quân Tử noi theo trong cuộc sống : “người Quân Tử lấy sự thành đạt cái Đức ấy làm nền nếp cho công việc hàng ngày của ḿnh, mà ai ai cũng có thể thấy được” (Quân Tử thành Đức vi hạnh, nhất khả kiến chi hành dă).


RỒNG KHI ẨN NÁU :

Nói đến công việc hàng ngày, tức là nói đến những con người b́nh thường, sống đời sống b́nh thường. Nếu trong những sinh hoạt b́nh thường ấy, mà tiềm ẩn cái Đức của Càn, th́ coi như ứng với hào dưới cùng của quẻ, gọi là “tiềm long vật dụng”, tức là : rồng c̣n ở ẩn, tài đức chưa được đem ra thi thố trong thiên hạ. Thật vậy, “Dương” là mạnh mẽ, là ở trên, mà hào Dương này lại nằm măi tận dưới cùng của quẻ, nên Chu Hy mới nói đó là “cái Khí Dương c̣n ở chỗ thấp, chưa đem ra dùng được”. Khổng Tử th́ gọi đây là “người có Đức tốt mà c̣n ẩn náu, không thay đổi chí hướng của ḿnh trong cuộc sống, cho dù không được danh tiếng, cho dù người đời chẳng hề biết đến, vẫn không lấy đó làm buồn, vẫn vui vẻ hành sử theo Đạo, chỉ biết lo sao cho đừng trái Đạo, tâm hồn không ǵ lay chuyển được...” Trong bài thơ, điều này ứng với h́nh ảnh rồng c̣n ẩn phục trong ao, chưa xuất đầu lộ diện.


AO RỒNG :

Nếu rồng chưa xuất đầu lộ diện, chưa ai thấy được, th́ ao kia đâu đă gọi được là “ao rồng” ? Muốn có “ao rồng” th́ phải tiến lên hào thứ hai, từ dưới lên, của quẻ, gọi là “hiện long tại điền” (rồng hiện ra trên cánh đồng). Tượng của hào này là khí dương tuy vẫn c̣n thấp nhưng đă khởi sự trồi lên khỏi cuộc sống tầm thường chung quanh, nên đă bắt đầu được người đời biết đến. Theo Chu Hy, hào ấy ứng với "kẻ Đại Nhân tuy chưa có địa vị cao, mà tài đức đă rơ rệt, người thường không sánh nổi”. Trong bài thơ, đó chính là h́nh ảnh cái ao đă được biết là “ao rồng”, v́ có rồng hiện lên, ai nấy đều tôn trọng.


RỒNG NHẢY :

Tư thế của bậc Đại Nhân càng ngày càng nổi danh trong đám phàm phu, đến một lúc nào đó, trở thành một t́nh trạng rất mực nguy hiểm. Đó là tượng của hào thứ ba, từ dưới lên, của quẻ Càn. Lời Kinh nói :“Người Quân Tử phải suốt ngày mau lẹ, đêm tối vẫn c̣n lo toan tính, v́ biết dù cho ḿnh không có lỗi lầm chi, nhưng vẫn đang ở địa vị nguy ngập”. Tại sao lại bị nguy hiểm ? Chúng ta có thể tưởng tượng những ganh tỵ ám hại đến từ đám tiểu nhân thấp kém chung quanh, đồng thời với những đe dọa giết chóc, tù tội, của bọn hôn quân bạo chúa đương thời, thấy bậc Đại Nhân mà lo sợ cho địa vị của chúng. Theo Chu Hy th́ tư thê của hào thứ ba này là ở giữa, nên đáng lư phải mềm dẻo để dung ḥa với cả đôi bên, mà đàng này nó lại là một hào dương, nên quá cứng rắn, có thể bị hại từ cả hai phía. Mặt khác, hào ấy lại đứng ở bực trên trong đám thấp kém, nên vừa lộ h́nh tích, dễ bị hại, mà lại chưa đủ thế mạnh để tự bảo vệ, nên đúng là chỗ nguy vậy. V́ thê, người Quân Tử ở vào cảnh huống ấy, phải đêm ngày toan tính. Tính chuyện chi ? Khổng Tử nói về hào này có câu :“người Quân Tử biết đi tới được th́ đi tới, biết có thể làm trọn được, th́ làm trọn”. Chu Hy giải thích :“biết làm trọn được, th́ làm trọn, là việc dựng nghiệp”. Cái mà người Quân Tử phải toan tính, chính là điều này.

Tức là phải nhảy vượt lên như h́nh tượng “rồng nhảy lên khỏi vực sâu” của hào thứ tư trong quẻ Càn (hoặc dược tại uyên). Trong bài thơ, đó chính là hai chữ “dược long” nơi câu đầu. Hai chữ này tượng trưng cho bậc Đại Nhân, đă quyết chí đứng vào địa vị lănh đạo, tức là đă rời phần dưới của quẻ (ba hào dưới), mạnh dạn vượt lên phần trên (hào bốn), nhưng trong phần trên ấy vẫn c̣n ở vào chỗ thấp, tức là cái thế vẫn chưa được mạnh, sự nghiệp mới dấy lên, vẫn c̣n phôi thai non kém.


RỒNG BAY :

Sau khi đă khởi nghiệp, rồng càng lúc càng lên cao, và bay vút đi. Trong bài thơ, đó là các chữ “long dĩ phi”, ứng với hào thứ năm của quẻ Càn, có tên là “phi long tại thiên”. Lời Kinh nói rằng :“Rồng bay lên trời là công tŕnh của bậc Đại Nhân” (phi long tại thiên, Đại Nhân tạo dă). Khổng Tử coi đó là “bậc Thánh Nhân ra tay, vạn vật đều thấy”. Sở dĩ vạn vật đều thấy là v́ ở trên trời. Để cho rơ ràng hơn, Chu Hy xác định Đấng Thánh Nhân ấy chính là Vị “đứng đầu loài người”.


LONG ĐỨC TIÊN THIÊN :

V́ quẻ Càn lấy rồng làm biểu tượng nên “Long Đức” chính là cái Đức của quẻ Càn. Đức ấy vốn hằng có, nên gọi là “trước trời” (Tiên thiên). Trong khoa học Đông Phương, Tiên Thiên có nhiều nghĩa. Nói về hiện tượng, th́ Tiên Thiên là trước hiện tượng, trong khi Hậu Thiên là sau hiện tượng. Tiên thiên như hạt giống nằm sâu dưới mặt đất, nhưng đă tiềm tàng khả năng cho ra những thứ “hậu thiên” như cành, lá v.v...nên tiên thiên là tiềm năng, c̣n hậu thiên là sự hiện thực tiềm năng ấy. Tiên thiên cũng là tổng hợp các quy luật cấu thành vũ trụ, nên có trước vũ trụ vạn vật. Trong Y Học, tiên thiên là tất cả những ǵ cha mẹ truyền cho, trong khi hậu thiên là những ǵ mỗi người tự hấp thụ lấy từ môi trường sống sau khi chào đời. Long Đức thuộc về tiên thiên, nên Trời chẳng bao giờ trái lại (Thiên bất vi). Đó cũng là Đức của Trời, nên lời Kinh nói :“có Đức Trời để hưởng ngôi Trời” (năi vị hồ Thiên Đức). Đoạn khác nói :“Đại Nhân lấy cái Đức của ḿnh hợp với cái Đức của Trời Đất, lấy cái sáng của ḿnh hợp với cái sáng của mặt trời mặt trăng (...), và v́ là “tiên thiên” nên chẳng bao giờ bị Trời trái ư (tiên thiên nhi thiên bất vi), để khi hành sự trong hậu thiên (tức là trong thế giới vật chất hiện tượng thông thường), cũng luôn theo đúng với ư Trời” (hậu thiên nhi phụng Thiên thời). Chu Hy bàn thêm, đại ư rằng : Con người với Trời Đất, Thân Thánh, cùng chung một bản thể, nhưng v́ con người mang ảo tưởng ḿnh hiện hữu riêng biệt, nên tự cô lập trong ảo tưởng một “cái tôi” hạn chế mà không thông cảm được với Trời Đất, Thần Thánh, vạn vật. Kẻ Đại Nhân biết dẹp ảo vọng “cái tôi” hạn hẹp, ư thức Đạo là bản thể của ḿnh, nên không c̣n phân biệt sau trước, đó đây, mà luôn ḥa hợp với mọi sự. Tư tưởng này, đời nhà Tống, chắc là rất bị ảnh hưởng bởi khái niệm “vô phân biệt trí” của nhà Phật. Vô Phân Biệt th́ không c̣n thời gian (sau trước), cũng không c̣n không gian (đó đây), mà lúc nào cũng là lúc này, chỗ nào cũng là chỗ này, có thể đem đặt gần với khái niệm “tiên thiên”, lúc trước khi có hiện tượng, trong kinh Dịch. Sau khi đă có hiện tượng, th́ đương nhiên là có phân biệt, có thời và không gian. Nhưng, khi đó, nêu nắm vững được cái bản thể của mọi hiện tượng, th́ hành sự sẽ không sai lầm, sẽ luôn phù hợp với những quy luật thường hằng điều hành mọi sự. Tức là nắm được cái “Long Đức tiên thiên” th́ Trời sẽ chẳng trái ư (Thiên bất vi). Thật vậy, khi không c̣n ư riêng của ḿnh, v́ đă dẹp bỏ “cái tôi” nhỏ bé, th́ chỉ c̣n Ư Trời, chứ c̣n đâu ư nào khác nữa mà để cho Trời phải “trái ư” ?


NGÔI TỬ VI :

Các câu ba và bốn thừa theo hai câu đầu mà nói thêm về ao và rồng. Câu ba, tả ao, th́ bảo :“Tŕ khai Thiên Hán phân Hoàng Đạo”, nghĩa là “ao ấy mở ra giải Ngân Hà, và vẽ đường đi cho mặt trời”. Đó là cái ư “Thiên bất vi”, nhưng nghiêng về tư tưởng “làm chủ Trời Đất, Vũ Trụ”.

Câu bốn, tả rồng, cho rằng :“Long hướng thiên môn nhập Tử Vi”, rồng hướng đến cửa trời để nhập vào ṭa Tử Vi, tức là chỗ của bậc Thiên Tử. Đó cũng vẫn là ư nghĩa thống trị, đă có trong Kinh Dịch khi bàn về hào năm của quẻ Càn : “rồng ở trên trời, là ở ngôi trên mà cai trị” (phi long tại thiên, thượng trị dă). Nhà Nho, cũng như Platon ở Cổ Hy Lạp, thường cho là bậc hiền triết, Đại Nhân, phải ngồi vào ngôi Vua, để cho “muôn nước được yên” như lời Kinh Dịch (vạn quốc hàm ninh). Lịch sử cho thấy điều đó rất hiếm hoi. Có lẽ v́ thế mà “vạn quốc” luôn nhiễu nhương, đau khổ ?


SỰ RỰC RỠ HUY HOÀNG CỦA TRIỀU VUA THÁNH :

Bốn câu đầu, kết thúc bằng ba chữ “nhập Tử Vi”, cho thấy tác giả quy kết tất cả vào sự dựng thành một triều Vua Thánh. V́ thế, sau khi đă vẽ lên quá tŕnh thăng tiến của bậc Thánh Vương, từ lúc ẩn dật cho đến thời vinh hiển, tác giả dùng bốn câu kế tiếp để đem hết tất cả ḷng nhiệt thành hăng hái của ḿnh ra mà tán dương cảnh tượng rực rỡ huy hoàng của cái triều đại lư tưởng mà ông tin chắc sẽ có ngày hiện đến :

Trong câu thứ năm ông tả cảnh cung điện lâu đài nhà Vua muôn vàn khí sắc, và ở câu thứ sáu, gợi lên cho thấy ánh sáng của Vị Thánh Vương chan ḥa đến nỗi bầy vịt đồng và chim nhạn của Ngài cũng đầy vẻ rực rỡ quang huy (bầy “phù nhạn” thường được ví với các quần thần của nhà Vua). Không tả chính vị Thánh Vương mà chỉ tả những sự vật chung quanh, không cần nói đến “khí sắc” của Ngài, mà chỉ nói đến “khí sắc” của lâu đài đền điện, chẳng một lời về ánh sáng của Vua, mà chỉ tán dương sự sáng lạn rực rỡ của đám vịt trời và chim nhạn, bút pháp ấy quả là rất cao vậy !


VỀ CHẦU NƠI ĐÂY !

Thật ra, tác giả đă dành h́nh ảnh mạnh mẽ nhất của bài thơ cho hai câu kết, khi bảo với toàn thể sông ng̣i trong “hoàn vũ” (vị báo hoàn trung bách xuyên thủy), rằng : từ nay trở đi hăy về chầu nơi ao rồng này, chứ đừng chảy ra Biển Đông nữa ! Người xưa lấy Biển Đông làm biểu tượng của tất cả các biển, và hướng Đông là hướng của Biển Đông, nên bài thơ mới nói “mạc Đông quy”. Sở dĩ dùng chữ “quy”, nghĩa là “về”, v́ nước vốn do biển mà có, biển là gốc của nước, nên nước chảy ra biển chính là trở về với cái gốc của ḿnh. Nói cách khác, biển là nơi tụ về của mọi sông ng̣i, ứng với câu “thù đồ đồng quy” (khác đường nhưng về cùng một chỗ) trong kinh Dịch. Và về cùng một chỗ, cũng chính là trở về với cái Bản Thể chung của tất cả. Vậy, nay Ao Rồng kia đă là nơi nảy sinh ra Đấng tượng trưng cho cái Bản Thể ấy. Thế th́ sông ng̣i c̣n chảy ra biển Đông làm ǵ nữa, mà phải đến chầu nơi Ao Rồng này chứ ! Dù ư thức rằng đây chỉ là một h́nh ảnh có tính cách biểu tượng, tấm ḷng đă thốt lên được điều ấy cũng chẳng thể tầm thường, mà phải dung chứa một niềm tin sắt đá, một ư chí hăng say, một “khí lực mạnh mẽ” như lời Kim Thánh Thán khi phê b́nh bài thơ này. Niềm tin mạnh mẽ ấy nằm trong tư tưởng của Nhà Nho luôn lấy Đạo Đức của các bậc Vua Thánh thời Thượng Cổ làm gương mẫu, và luôn trông chờ sự trở lại của một triều đại Thánh Vương như vậy, để đem lại thái b́nh an vui cho thiên hạ.

Cho rằng những lời tán tụng trong bài này là dành cho một vị Vua nào đó của nhà Đường, th́ thật đáng hổ thẹn cho Thẩm Thuyên Kỳ lắm lắm. Kẻ từng lăn lộn trong quan trường như ông lẽ nào chẳng biết cái lẽ c̣n mất của những triều đại mới vừa vinh quang đă nát tan, tàn tạ, của những trào Vua chưa kịp hưng thịnh đă vội vàng sụp đổ như lâu đài trên cát ? Trung Quốc, và cả Nhà Đường mà Thẩm Thuyên Kỳ phụng sự, đều đă trải qua trăm cuộc bể dâu, có chi đâu là vững chắc, trường cửu, để có thể nói lên câu “Thiên bất vi”, hay răn dạy “trăm sông ng̣i trong hoàn vũ” phải chầu về nơi Đất Thánh ?
o

TÓM LẠI :

Bài này diễn đạt một cách mạnh mẽ niềm tin vào một Vị Thánh Vương ra đời cứu độ thiên hạ, như từng được nói đến trong Kinh Dịch (câu 1), để chấm dứt những bất hạnh mà các xă hội con người luôn phải gánh chịu. V́ ư muốn của Người là Ư Muốn của Trời (câu 2), nên Vị Thánh Vương này không những sẽ thống trị loài người, mà c̣n khắc phục được cả vũ trụ vạn vật (câu 3 và câu 4). Triều Đại của Người sẽ là một Triều Đại chan ḥa ánh sáng (câu 5). Vinh quang của Người sẽ chiếu đến muôn loài (câu 6). Và muôn loài sẽ quay về với Người như những đứa con về với mẹ hiền, như sông chảy ra biển, v́ Người chính là hiện thân của bản thể của vạn hữu (câu 7 và 8).

Phải chăng có thể hiểu rằng : trong bất kỳ nền văn minh nào, ở bất kỳ thời đại nào, và bất cứ nơi đâu, con người cũng luôn mang niềm tin vào một Đấng Cứu Tinh, với quyền uy tuyệt đối, có khả năng đem được ḿnh ra khỏi những đọa đày của cuộc sống ? Và phải chăng Thuyết Cứu Rỗi (Messianisme) chính là một phương cách để nói lên ḷng tin tưởng rằng Thượng Đế luôn yêu thương con người như Cha nhân từ mến yêu bầy con nhỏ ?

Có lẽ đó là nguồn của mọi hy vọng, và của cuộc sống, v́ ai trong chúng ta lại không từng cảm thấy rằng :

Sống chẳng qua chính là Hy Vọng ?

NGUYỄN HOÀI VÂN
15/11/1994

Các bài liên hệ :       Hoàng Hạc Lâu

                                  Phượng Hoàng Đài

Trở về Mục Lục