MỘT KỶ NIỆM BÀN LUẬN VĂN CHƯƠNG VỚI CỤ TRẦN VĂN ÂN QUA BÀI THƠ

PHONG KIỀU DẠ BẠC

 

 

Văn thơ chiếm một phần lớn cuộc sống của cụ Trần Văn Ân. Khi con học sinh, với trí nhớ xuất sắc, cụ đă thuộc ḷng nhiều tác phẩm của các văn thi sĩ Pháp được dạy trong trường. Anh em trẻ sau này gặp cụ vẫn thường kinh ngạc khi nghe cụ đọc vanh vách từng bài thơ của Victor Hugo, Vigny, Musset, Lamartine v.v… và cả những đoạn văn dài của Chateaubriant. Đến lúc thiếu thời sống ở Trung Hoa (từ 1923), cụ đă biết làm thơ tiếng Tàu tặng mỹ nhân xứ Sán Đầu … Sau này, năm 1929, được mời dự  « Đệ Tam Thứ Toàn Quốc Đại Biểu Đại Hội » của Trung Hoa Quốc Dân Đảng ở Nam Kinh, cụ lại nấn ná ở Trung Quốc thêm vài năm nữa, vừa đủ thời gian làm thơ ngoạn cảnh với một người bạn nữ sĩ, mang họ Ngô, cán bộ cao cấp « Quốc Tế Khoa » Quốc Dân Đảng, để lại vài bài thơ trữ t́nh …

Tuy nhiên, có lẽ chính giai đoạn 9 năm tù tử tội đă làm cho văn thơ, đặc biệt là văn thơ Trung Quốc, gắn liền với cuộc đời cụ. Văn Lang Thi Tập (Văn Lang là bút hiệu của cụ), gồm nhiều trăm bài thơ dịch, không những Đường Thi, mà cả thơ Trung Hoa các đời khác, cộng thêm với thơ Nhật, Pháp, Anh, và Việt Nam … phần lớn được làm trong khám tử h́nh Côn Sơn, phần c̣n lại trong thời lưu vong tại Pháp.

 

Thơ sáng tác của cụ cũng rất phong phú, và một phần quan trọng cũng được làm tại Côn Sơn, như hai bài sau, xin chọn nhắc lại làm kỷ niệm :

 

Triêu triêu tự triêu triêu

Nhật nhật không tự tiêu

Môn ngoại nhàn phi điểu

Ngục trung nhân tiệm điêu

 

Và :

Tịch tịch hoàn tịch tịch

Tiêu tiêu cánh tiêu tiêu

Sầu nhân vô đoan tứ

Dạ cửu hận nan tiêu

 

Triêu là sáng sớm, điêu như « điêu tàn », tịch trước là chiều tối, tịch sau như « tịch mịch », tiêu trước là đêm, tiêu sau như « tiêu điều » …

 

Dịch thoát :

 

Bài một :

 

Sáng ra rồi lại sáng ra

Ngày đi ngày lại trôi qua nhẹ nhàng

Ngoài trời chim lượn rảnh rang

Người ngồi trong khám dung nhan héo dần

 

Bài hai :

 

Chiều hôm rồi lại chiều hôm

Đêm qua đêm lại càng thêm mối sầu

Người buồn nhớ những đâu đâu

Đêm khuya vắng vẻ càng sâu hận ḷng.

 

Một bài khác :

 

Tảo khởi loạn văn quần tước táo

Cao song viễn kiến vũ không minh

Sơn đầu thảo mộc giai xuân sắc

Ngục lư lăo thanh nhất tụy h́nh

 

Và cũng xin thêm một bài chữ  nôm :

 

Giá héo phơi thây trên sạp đá

Bàng tươi rũ lá trước hiên sân

Nh́n trời muốn gửi vầng mây nổi

Uất khí trong ḷng nặng tấm thân

 

Muốn nhẹ nhàng bay bổng như vầng mây, nhưng có dễ không ? C̣n phải trút đi cho bằng được mối hận trĩu nặng trong ḷng. Làm sao ? Cụ t́m cầu cửa Phật, mong đem Thiền quán hóa giải nỗi oán hờn oan khiên …

 

Khi ấy, bạn tù của cụ là ông Hồ Hữu Tường nhận được sách « Présence du Bouddhisme » của gia đ́nh gửi cho. Ông không đọc, bảo đă chán Phật, nghĩ ra thuyết khác hay hơn. Cụ Trần Văn Ân liền năn nỉ mượn, rồi nghiền ngẫm đên ngày, sợ bị cai tù tịch thu. Mà quả thật ít lâu sau, có lệnh tịch thu hết sách của tù tử tội, nhưng cụ đă chép được những đoạn chính đồng thời nhớ thuộc ḷng nhiều đoạn khác …

Rồi ngày nọ có người thường phạm vào hớt tóc cho tử tội (có giám thị cầm súng canh…), cụ hỏi có sách ǵ cho mượn đọc chơi. Anh bảo nhà chỉ gửi cho Kinh Phật, đọc không vô ! Bác xin cai tù cho  phép mượn. Họ nghĩ vô hại nên ưng thuận. Ít lâu sau, cụ nhận được một mớ kinh, với lời anh thường phạm nhắn theo : không cho mượn, mà cho luôn !

 

Chính v́ thế, v́ muốn tri ân Phật Học, mà cụ đă đặt bài thơ Thiền danh tiếng « Phong Kiều Dạ Bạc » ngay ở đầu Văn Lang Thi Tập. Thật ra, phải nói là  bài này cũng gợi lại những ngày du lịch Tô Châu, ghé bến Phong Kiều, thăm chùa Hàn San với … người nữ sĩ họ Ngô ! Và, theo cụ,  cũng nơi ấy, khi xưa, có nước tên Việt, có đài Cô Tô, với nàng Tây Thi …

 

--- 0 ---

 

Phong Kiều Dạ Bạc, bài thơ Thiền tiêu biểu, cụ gọi là « Ư Thiền, Lời Thiền, Cảnh Thiền, đưa đến bờ Giác Ngộ », gồm 4 câu 7 chữ như sau :

 

Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

                                                Trương Kế

   

Bản dịch sang chữ quốc ngữ nổi tiếng nhất là của Tản Đà :

Tăng tà tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cây băi sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

 

Bài dịch này được coi như rất thi vị, mùi mẫn lâm ly, tả cảnh anh chàng Trương Kế xa nhà, thi trượt về quê, đi thuyền trong đêm tối, với sương phủ, quạ kêu, hàng phong xào xạc, đèn chài mờ ảo, nghe tiếng  chuông chùa từ xa vọng lại thanh thoát, huyền bí siêu nhiên, khiến những con tim lăng mạn đọc qua  không khỏi bồi hồi thổn thức, ngẩn ngơ mơ mộng, thậm chí có khi c̣n sụt sùi nhỏ lệ, như "em gái hậu phương" đọc thư "người anh tiền tuyến" !

 

Tuy nhiên, nếu cụ Tản Đà đă diễn tả thành công cái khía cạnh rất mực lăng mạn của một t́nh cảnh mà chúng ta dễ h́nh dung và thông cảm qua lời thơ điêu luyện của cụ, người đọc vẫn không khỏi thắc mắc : đâu là ư nghĩa Phật Giáo của bài thơ, đâu là luồng Thiền Khí mănh liệt tiềm tàng trong bài thơ ấy, để nó luôn vẫn được truyền tụng như một bài thơ Thiền danh tiếng ?

 

Thật vậy, nếu bài Phong Kiều Dạ Bạc chỉ là một bài thơ tả cảnh tả t́nh thuần túy, với đêm đen sương phủ, vài tiếng quạ kêu, đôi cây cầu, dăm cây phong, với chú học tṛ thi trượt về quê sửa soạn nghe vợ (hay mẹ) xài xể, rồi đang lúc chán đời ngủ gục, lại nhè gặp anh thày chùa ba trợn nửa đêm hứng t́nh khua chuông inh ỏi, th́ có thể tạm gọi là hay, chứ không có ǵ xuất sắc, không những không hơn mà sợ c̣n kém những Thu Điếu, Qua Đèo Ngang, Thăng Long Thành Hoài Cổ v.v… của Đại Nam ta rất xa !

 

V́ thế nên xin đề nghị phân tích sâu vào những vần thơ kia, để thử cảm nhận cái hương vị Thiền, cái căn nguyên Đạo Lư trong đó.

 

--- 0 ---

 

            Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên … Dịch từng chữ là : quạ kêu, trăng lặn, sương đầy trời. Ta có thể tưởng tượng một đêm đen, với vầng trăng đă lặn, lại thêm sương phủ đầy trời ... Tức là một cảnh tăm tối mờ mịt, khó mà nh́n thấy được cảnh vật chung quanh.

 

            Giang phong ngư hỏa đối sầu miên. “Sầu miên” là “buồn ngủ”. Trong cảnh trời tối đen như thế, lại thêm sương phủ mịt mờ, giương mắt nh́n c̣n khó thấy được ǵ, thế mà khách lại ngủ gục, th́ cái sự “thấy” kia quả là hạn chế bội phần vậy. Ư ǵ ? Nếu không phải là vẽ lên cái cảnh huống Vô Minh của con người bập bềnh nổi trôi trên gịng đời mờ ảo ?

 

“Ngư hỏa” chỉ ánh đèn của người ngư phủ thấp thoáng nơi xa. Phải chăng đó là những ánh Đạo Quang chập chờn ẩn hiện trong cái tâm thức vô minh mê muội của mỗi người chúng ta ? Đôi khi đọc sách, tụng kinh, nghe giảng hay thiền quán, nhiều người trong chúng ta cũng có thấy hé lộ ra được chút chân lư, chút Đạo Quang, như thấy ánh lửa chài thấp thoáng kia. Nhưng, liền sau đó,  tâm hồn lại ch́m trở vào giấc ngủ vô minh, như khách đi thuyền gật gù mê ngủ, bập bềnh trôi theo gịng nước.

 

“Giang phong” thường được hiểu là “hàng phong bên sông”. Tuy nhiên, khách du lịch ngày nay có khi được nghe người hướng dẫn giảng rằng ở chỗ ấy ngày xưa có hai cay cầu : Phong Kiều và Giang Kiều, khiến cách hiểu “hàng phong bên sông” có phần bị nghi ngờ .

 

Thế c̣n tiếng quạ kêu ảm đạm giữa đêm đen ? Để quân b́nh với ư nghĩa “Đạo Quang” của “đèn chài”, tiếng quạ kêu có thể tương ứng với tiếng gọi của ác nghiệp. Trong truyền thống dân gian, quạ thường được gắn liền với tội lỗi. Tiếng quạ kêu ít khi nào báo hiệu chuyện tốt lành …

 

Đến đây, chỉ với hai câu mười bốn chữ, bối cảnh của bài thơ đă được vẽ lên, không những một cách thi vị lăng mạn, mà cũng vô cùng đầy đủ, chính xác, với những tương ứng khéo léo giữa Tâm và Cảnh. Quả thực Tâm là Cảnh, Cảnh là Tâm. Ngoài Tâm không có Cảnh, mọi Cảnh đều ở trong Tâm, thuyết “Duy Tâm tuyệt đối” thường được gán cho Phật Giáo chính là như vậy.

 

Trong bối cảnh tối tăm, Vô Minh ấy, chuyện ǵ xảy ra ? 

            Theo cụ Trần Văn Ân, chuyện xảy ra đó chính là :

 

 Dạ bán chung thanh : Nửa đêm chợt có tiếng chuông vang lên .

    

Để rồi :  

 

           Đáo khách thuyền : Khách nghe tiếng chuông, giựt ḿnh tỉnh ngủ, thấy thuyền ḿnh đă đến bến tự bao giờ rồi !

 

            Th́ ra không phải tiếng chuông chạy h́ hục từ Chùa Hàn San ṃ đến bến Phong Kiều để chui vào tai của khách, mà tiếng chuông chùa vang lên (chung thanh), làm khách giựt ḿnh tỉnh giấc. Thấy : đă đến bến ! (đáo khách thuyền !)

           

Nếu khách chi lè phè ngồi nghe tiêng chuông ṃ đến thuyền ḿnh như nhiều người thường hiểu nhóm chữ "chung thanh đáo khách thuyền", th́ bài thơ không những không nêu rơ đuoc cái ư nghĩa Phật Giáo của nó, mà nói cho cùng cũng chẳng có ǵ đặc sắc. Đàng này, v́ tiếng chuông mà khách giựt ḿnh tỉnh ngủ, thấy đă đến bến, đó là GIÁC NGỘ, là xé bỏ tấm màn Vô Minh, là mở Huệ Nhăn soi thấu thực tướng của sự vật, phá tan tấm màn u mê tam tối quanh ḿnh, cùng với sự thiếu ư thức nơi ḿnh.

 

Khách đă đến bến từ lâu, nhưng không biết, không thấy, v́ bị tấm màn Vô Minh che lấp, v́ đêm đen sương phủ c̣n thêm buồn ngủ, thiếu ư thức...Một tiếng chuông vang lên, như một lời nói, một cảnh ngộ, một câu kinh, một "công án" v.v... nếu thuận duyên th́ có khả năng làm cho người tỉnh giấc, thoát khỏi Vô Minh, phóng một cái nh́n mới, một cái nh́n sáng suốt đầy ư thức quanh ḿnh, để nhận thấy : ta đă đến bến tự lúc nào rồi !

 

Thật vậy, ta không thành Phật, mà Phật vốn vẫn là ta, ta là tất cả, tất cả ở nơi ta ! "Vạn vật giai bị ư ngă", nhà Nho cũng nói thế ! Nếu chiêm nghiệm việc Đức Ky Tô bảo con người vốn vẫn làm một với Ngài, trong khi Ngài làm một với Thiên Chúa, mà Thiên Chúa lại là tất cả, th́ có thể thấy Ky Tô Giáo chung quy cũng không đứng ngoài nền móng “nhất quán” này vậy.

 

Theo ư nghĩa "trong giây lát giựt ḿnh tỉnh giấc", bài thơ này được xếp trong khuynh hướng Thiền "Đốn Ngộ", tức cho rằng sự giác ngộ đến một cách đột ngột trong một số điều kiện nào đó. Đối lại với “đốn ngộ” là quan niệm "tiệm giác", cho là phải kiên nhẫn chùi rửa cái Tâm của ḿnh hàng ngày, hàng phút, hàng giây, năm này qua tháng nọ, để cho nó dần dần được trở nên trong sáng.

 

        Thật ra, hai quan điểm nay không đối nghịch, mà hài ḥa với nhau. Sự giác ngộ tuy đến đột ngột, nhưng, như đă nói, sự đột biến ấy lệ thuộc vào một số điều kiện, mà một phần quan trọng của những điều kiện này lại được đem đến bởi sự tu hành luyện tập. V́ thế người xưa mới nói rằng “lư tuy đốn ngộ, sự vẫn tiệm tu” …

 

---o---

        Phân tích bài thơ như thế có chủ quan lắm không ? Nhiều đấng huynh trưởng rất tinh thông Hán tự đă tỏ ư nghi ngờ. Một thắc mắc thường được nêu lên nhất là nếu nhà thơ Trương Kế đă đạt đến giác ngộ vào lúc làm bài thơ này th́ tại sao sau đó không xuống tóc đi tu mà vẫn c̣n lặn hụp trong biển ô trọc thế gian, vẫn bon chen trên con đường hoạn lộ, sau này làm đến Tự Bộ Viên Ngoại Lang ?

 

        Có thể  ông chỉ mô tả sự giác ngộ chứ chưa chứng thực được nó ? Hoặc giả ông đă thoáng thấy một tia sáng chân lư lóe lên rồi chợt tắt, đă bước được vào một cảnh giới tâm linh để rồi, như nhiều người trong chúng ta, lại bị cuộc sống kéo lôi vào hư vọng ?

 

        Cũng có thể cho rằng sự giác ngộ hoàn toàn không bắt buộc phải từ bỏ con đường đang đi, công việc đang làm, mà ngược lại khiến người ta có hiệu năng cao hơn trên con đường ấy, có những cảm nghiệm chính xác hơn về công việc kia. Nói cách khác, trong mọi công việc, mọi cảnh huống, người đă đạt đến một tŕnh độ tâm linh nào đó sẽ dễ có được những hành động thích hợp, lời nói thích hợp, cố gắng thích hợp, suy nghĩ thích hợp v.v… hơn những người khác. Chúng ta có thí dụ của những nhân vật lỗi lạc đời Trần, vẫn làm chính trị, vẫn cầm gươm diệt giặc, mà cũng vẫn tu tập hành đạo. Hành đạo không chỉ là tụng kinh gơ mơ hay xếp bằng thiền quán, mà chính là sống thực, sống trọn vẹn mỗi động tác, mỗi lời nói, trong mọi công việc. Đó cũng là  thuận theo những duyên nghiệp mà cuộc sống đă phó thác cho chúng ta. Đạo là tất cả.  Hành đạo có thể là làm bất cứ ǵ. Vấn đề nằm ở chỗ ư thức trọn vẹn cái bản chất của sự việc ḿnh làm, thay v́ bị kéo lôi trong mù quáng, ảo vọng.

 

        Trương Kế ứng với trường hợp nào ? Chúng ta chỉ có thể thắc mắc chứ có lẽ không  bao giờ có câu trả lời.

 

--- 0 ---

 

            Cụ Trần Văn Ân đương nhiên là cũng đă trải qua những thắc mắc trên. Cụ đă đem nhiều tâm huyết t́m hiểu bài thơ này, cũng như đă đem nó ra dịch đi dịch lại không dưới tám lần, mà vẫn chưa vừa ư. Cụ cũng từng bỏ công t́m đọc sách vở Trung Quốc xem các học giả đồng hương của Trương Kế b́nh luận thế nào về “Phong Kiều Dạ Bạc” ?

 

            Có lần cụ chỉ cho tôi xem sách “Đường Thi Tam Bá Thủ” của nhà xuất bản Minh Lượng, Hương Cảng. Tác giả sách này cho rằng tài thơ của Trương Kế rất cao, nhưng hậu thế quá tầm thường nên đă phụ cái tài ấy. Một tài liệu khác là sách “Thiên Gia Thi”, của Học Lâm Thư Điếm, Cửu Long, Hương Cảng, xuất bản. Sách này viết rơ như sau :

 

            “Hốt văn Hàn San chung thanh dạ bán nhi minh, bất giác khởi thị khách thuyền dĩ chí Cô Tô thành ngoại chi Phong Kiều hỹ”.

 Nghĩa là : 

 “Th́nh ĺnh nghe tiếng chuông chùa Hàn San giữa đêm gióng lên, nên bất giác nh́n ra thấy thuyền khách đă đến bến Phong Kiều ở ngoài thành Cô Tô”.

 

---o---

        

        Thật ra, theo tôi, khi đọc thơ, vấn đề "hiểu đúng" hay "hiểu sai" không quan trọng. Điều quan trọng là bài thơ gợi lên được những cảm tưởng ǵ trong tâm hồn ta ? Nếu người làm thơ thật sự muốn nói lên những điều chính sác, muốn ta phải hiểu "cho đúng", th́ ông ta đă sử dụng thể văn xuôi, đă khai triển vấn đề một cách rơ ràng minh bạch, giải thích đâu vào đó, “rằng th́ mà là” hẳn hoi. Chức năng của thơ không phải vậy.

 

        Thơ, đặc biệt là loại thơ súc tích như thơ Tứ Tuyệt, nhằm gợi lên những cảm xúc chủ quan nơi người đọc. Nói cách khác, những bài thơ loại này khơi động những "thảo tŕnh" đă được cài sẵn trong tâm hồn ta, có khi đă bị ta quên mất từ lâu, bao gồm những âm thanh, h́nh ảnh, và tư tưởng triền miên...

 

        V́ thế, mỗi khi b́nh luận một bài thơ (xem : http://perso.wanadoo.fr/nguyen.hoai.van/Muc-Luc.htm#1), tôi muốn chia sẻ với bạn đọc những ǵ bài thơ ấy gợi lên nơi tôi, một cách thành thật. Nay, nếu lại v́ sợ oai học giả này hay "học thiệt" khác mà tôi phải nói khác đi với những ǵ tôi tâm tưởng thực sự qua bài thơ kia, th́ hóa ra là tôi nói láo với bạn đọc của tôi hay sao ?

 

            Tuy nhiên, cũng phải công nhận rằng sự phân tích văn chương bằng cách thâu lượm những ư kiến đó đây, những dữ kiện khách quan cũng như chủ quan từ nơi này chốn nọ, là một công việc có tính cách trí thức, khoa học, rất cần phải có. Tuy nhiên, ta cũng có thể đi vào một tác phẩm văn chương một cách khác, trực tiếp hơn, bằng sự ḥa ḿnh vào tác phẩm, vào tác giả, vào tổng thể “tác giả - tác phẩm”, làm một với tổng thể ấy, để rồi buông thả lặng lẽ quan sát xem những ư niệm ǵ, những cảm giác ǵ sẽ TỰ NHIÊN nảy sanh ra trong tâm hồn ta. Những ư niệm ấy không những được  sanh ra trong cái thế giới nội tâm của ta, mà, như những đứa trẻ, chúng c̣n có thể trưởng thành, lớn khôn, thậm chí hướng đến Chân Thiện Mỹ, đến Đạo, hay ngược lại, suy thoái, hoại diệt, đi vào quên lăng …

 

        Trương Kế nói “nửa đêm chuông đổ”, cần ǵ phải thắc mắc v́ duyên cớ ǵ mà có ông sư đến nửa đêm c̣n khua chuông ầm ĩ ? Bày ra làm chi những chuyện sư cụ rặn thơ không ra, phải nhờ chú tiểu giúp sức, đến khi làm được bốn câu tàm tạm, bèn hè nhau đập chuông inh ỏi tạ ơn Phật ! Ích ǵ những chuyện vớ vẩn ấy ? Phật cũng phải rầu !

 

        Chi bằng cứ tự để ḿnh là khách ngồi thuyền ngủ gục trong đêm đen, để khi nghe tiếng chuông chùa vang lên (có thực hay trong mơ, không quan trọng), cũng giựt ḿnh tỉnh giấc như khách, cũng nh́n ra xem thuyền đang ở đâu, và nhất là cùng với khách cũng thấy dâng lên trong tâm hồn ḿnh một cái ǵ đó mănh liệt đến độ cần phải ghi lại thành một bài thơ …

 

        Người xưa nói “văn dĩ tải Đạo” có lẽ không phải là “Văn chở Đạo”, như chở một thực thể bên ngoài đem đến gơ cửa giao tận nhà cho người đọc. Văn, và đặc biệt là thơ, “tải” một sự gợi ư, một cảnh ngộ, một “nhân duyên”, để người đọc “làm chạy” những thảo tŕnh cài sẵn trong miền sâu thẳm của tâm thức ḿnh đă tự muôn đời, để rồi quay trở về với chính ḿnh, với cái TÂM THẬT của ḿnh, cái TÂM chung của Vạn Hữu …

  

                                                               NGUYỄN Hoài Vân

                                                12 tháng 12 năm 2005

 

Trở về mục lục