ĐĂNG KIM LĂNG PHƯỢNG HOÀNG ĐÀI

—-o—-

 

Bài này của thi hào Lư Bạch (701-762), gồm tám câu bảy chữ như sau :


Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du
Phượng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân Bạch Lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu.
 

                        Dịch (theo cụ Trần Văn Ân và GS Trần Trọng San) :

Đài Phượng, Phượng Hoàng đă ghé chơi
Phượng đi, đài vắng, nước c̣n trôi
Cung Ngô đường nẻo cỏ hoa lấp
Triều Tấn mũ xiêm g̣ đất vùi
Nửa rụng ngoài trời ba núi đứng
Chia đều giữa băi mấy ḍng xuôi
Chỉ v́ mây nổi che vừng nắng
Chẳng thấy Trường An luống ngậm ngùi.


HOÀNG HẠC LÂU

            Bài này lấy ư bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Khi đến lầu Hoàng Hạc, Lư Bạch thấy bài thơ của Thôi Hiệu đề ở đây, liền cúi đầu chịu phục mà nhắn lại rằng :



Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
(Có cảnh trước mắt, mà nói ra không được
V́ Thôi Hiệu đă nói hết cả rồi trong bài thơ đề ở trên đầu)

            Tuy vậy, sau đó Lư Bạch vẫn làm ra ít là hai bài phỏng theo ư chính của “Hoàng Hạc Lâu”. Đó là các bài Phượng Hoàng Đài, và Anh Vũ Châu.

            Bài Hoàng Hạc Lâu gợi lên ư tưởng rằng người xưa đă cưỡi hạc bay đi mất rồi, và đă trở thành cát bụi, như bao đấng Thánh Nhân tự cổ thời. Ngôi lầu Hoàng Hạc c̣n lại đây chỉ là cái thừa thăi, chẳng có giá trị ǵ bao nhiêu. Tuy nhiên, nếu chịu khó nâng tâm hồn lên, ngửa mặt nh́n trời, th́ sẽ thấy đám mây trắng trước kia đă từng nâng đỡ cánh hạc của người xưa, nay vẫn c̣n đó, biểu tượng cho cái chân lư thường hằng tiềm ẩn trong Đạo Lư của các Ngài. Biết được như vậy, th́ nên quư trọng cái thường hằng ấy, mà rẻ khinh những cái bề ngoài, những kinh điển từ chương, những chuyện phù phiếm hư huyễn, như ngôi lầu Hoàng Hạc. Rồi tác giả nói sang vẻ rực rỡ xanh tươi của cảnh vật chung quanh lầu Hoàng Hạc, để cho rằng những cảnh đẹp ấy cũng chẳng làm rung động được tâm hồn ông, v́ ḷng ông luôn măi hướng về quê cũ. Trong lúc màn chiều buông phủ, khói sóng dâng lên làm mờ cảnh vật tươi đẹp chính là biểu tượng của nỗi buồn nhớ quê hương của tác giả, sóa nḥa những thắng cảnh trước mặt ông, khiến ông chẳng muốn đoái hoài ǵ đến chúng, như đă từng rẻ khinh lầu Hoàng Hạc ở đoạn trên.


THỪA MỘT CÂU ?

            Trong bài Hoàng Hạc Lâu, lầu Hoàng Hạc chỉ được nhắc đến có một lần ở câu hai. Tương tự như vậy, trong bài Phượng Hoàng Đài này, Lư Bạch chỉ nói đến đài Phượng Hoàng ở hai câu đầu, mà câu thứ nhất lại thường bị coi là thừa thăi. Thật vậy, nói: “Đài Phượng, Phượng Hoàng đă ghé chơi” có một vẻ ǵ không cần thiết, như nói đến một sự đương nhiên. Kim Thánh Thán chê câu này thậm tệ. Tuy vậy, riêng tôi lại rất khoái câu ấy. Cái “duyên” của nó là chẳng nói ǵ cả, có vẻ như giỡn chơi, nhưng lại nhẹ nhàng đưa xuống câu dưới một cách thực là thấm thía. Bạn thử tưởng tượng khách đa t́nh nọ ghé chơi nhà người yêu, được khách coi như “của ḿnh” :“Đài Phượng, phượng hoàng đă ghé chơi” đấy ! Rồi khách ra đi : “Phượng khứ, đài không”, đài kia bỏ trống, đơn lẻ quạnh hiu, trong lúc “nước sông vẫn chảy”, thời gian vẫn trôi, thách thức sự đợi chờ ṃn mỏi...Năo nùng đấy chứ ? Lư Bạch có nghĩ giống vậy không ? Biết đâu chừng ! Chàng thi sĩ lăng mạn này đă từng thâm cảm t́nh huống :

“Mỹ nhân tại thời hoa măn đường
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng

(Người yêu kề bên, hoa nở đầy nhà,
Người yêu vắng bóng, giường chiếu trống không)
(Kư viễn)

    th́ cái cảnh “Phượng đi, đài vắng” này nào có khác ǵ bao nhiêu ? Dù sao, cái khéo của tiên sinh ở chỗ đang nói những chuyện đương nhiên, nào “đài Phượng, Phượng Hoàng đă ghé chơi”, nào “Phượng đi, đài vắng”, rồi bất chợt chặt đứt sự trôi chảy nhẹ nhàng ấy bằng ba chữ “giang tự lưu": nước sông vẫn chảy. Đang nói chuyện Phượng và Đài Phượng, có ăn nhằm ǵ đến “sông vẫn chảy” ? Quả thực chẳng ăn nhằm ǵ, nếu “sông vẫn chảy” không biểu tượng cho thời gian trôi. Ôi ! “Tương tư hoàng diệp tận, bạch lộ thấp thanh đài": nhớ người đến lá vàng rụng sạch, chỉ c̣n sương trắng ướt rêu xanh, như mái tóc đă bạc màu, trong khi tấm ḷng ngày càng lạnh lẽo...Người chờ đợi, nhưng thời gian nào có đợi chờ ai ?


SÔNG VẪN CHẢY, MÂY TRẮNG VẪN TRÔI :

            Nếu lấy ư của bài Hoàng Hạc Lâu, th́ “sông vẫn chảy” ứng với câu “mây trắng ngàn năm vẫn măi trôi” (Bạch vân thiên tái không du du), tức là biểu tượng cho cái thường hằng bất biến ở trong sự vật vô thường luôn biến đổi. Nhưng họ Lư khác với Thôi Hiệu. Bài của Lư Bạch cũng nói theo ư ấy, nhưng không mấy ǵ có vẻ “Đạo Lư”, mà lại làm cho ta liên tưởng đến một chuyện t́nh...

            Cũng như Thôi Hiệu, Lư Bạch dùng hai chữ “khứ” và “không” để vào đề. Thôi Hiệu đặt các chữ ấy ở hai câu :

Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu

            Lư Bạch th́ dồn cả “khứ” và “không” vào một câu (Phượng khứ đài không giang tự lưu). Thánh Thán cho đó là để dấu h́nh tích, tránh bị chê là bắt chước. Tôi không đồng ư với quan điểm này. C̣n nhiều sự tương đồng khác giữa hai bài thơ, Lư Bạch cần ǵ phải “dấu h́nh tích” bằng một tiểu xảo như vậy ?


TRỞ VỀ CÁT BỤI :

            Hai câu ba và bốn nối tiếp ư tưởng gịng thời gian luôn măi lạnh lùng trôi, và soi ṃn, tàn phá tất cả. Của cải, uy quyền trên cơi thế, với thời gian đều trở về với cát bụi. Lư Bạch dơi mắt nh́n Cung Ngô, chỉ thấy đền đài bỏ hoang, cỏ hoa che lối. Rồi biết Tấn là triều đại đă đanh dẹp Ngô, mà nh́n về Tấn, cũng chỉ thấy áo măo xiêm y đă biến thành g̣ đất lạnh tự bao giờ rồi ! C̣n tham lam đeo đuổi làm ǵ những của cải uy quyền thế gian ? Phải chăng là ứng với ư tưởng nên nâng tâm hồn lên, ngửa mặt nh́n trời, t́m một cái ǵ cao quư hơn những điều hư huyễn ở đời, như đă được diễn bày trong bài Hoàng Hạc Lâu ?


NGỬA MẶT NH̀N TRỜI :

            Và Lư Bạch đă nh́n, nh́n măi, để thấy :

Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
(Ba ngọn núi nửa như rơi ra ngoài trời xanh)

            Làm sao núi lại rơi được ra ngoài trời xanh ? Thưa rằng : v́ cố sức nh́n măi, như muốn xuyên thủng trời xanh, nhưng lại luôn bị ba ngọn núi kia cản trở (Tam Sơn ở Tây Nam thành Kim Lăng), cho nên dần dần thi sĩ có ảo giác sức nh́n của ḿnh đẩy lùi được núi ra ngoài trời xanh ! Một ảo giác khá ngộ ! Cũng có thể nghĩ cảm giác này do nh́n măi mỏi mắt mà sanh ra. Dù sao, điều cần tự hỏi là Lư Bạch nh́n ǵ mà dữ vậy ? T́m một mối t́nh, một kỷ niệm, hay một chân lư thường hằng của Trời Đất, một sự giải thoát khỏi nỗi phù du của kiếp người ? T́m ǵ, để rồi chỉ thấy một ảo giác ?


CÚI MẶT NH̀N XUỐNG :

            Nh́n măi mỏi mắt, tác giả cúi mặt trông xuống, và thấy băi Bạch Lộ bị phân chia bởi hai nhánh sông. Ở đây chúng ta có được sự cắt nghĩa hiện thực (nhưng không cần thiết) của ba chữ “giang tự lưu” nơi câu hai. Th́ ra là trong cảnh vật chỗ ấy có nước sông chảy. “Giang tự lưu” có thực chứ không phải chỉ là một biểu tượng. Và ḍng nước kia, xưa đă chảy, nay vẫn c̣n chảy, lạnh lùng không biến đổi, bất chấp Phượng Hoàng đến hay đi, đài Phượng có Phượng ghé chơi, hay bỏ trống, Cung Ngô rực rỡ hay hoang phế, Triều Tấn oanh liệt hay suy tàn...Bất chấp cả anh chàng Lư Bạch đang dương mắt nh́n chốn xa xăm đến độ đẩy lùi ba ngọn núi ra khỏi trời xanh ! Thật vây, dù cho ta có mơ ước ǵ, có t́m kiếm chi, có suy tưởng ra sao, lư luận thế nào, th́ “núi vẫn là núi, sông vẫn là sông” như lời một Công Án. Trí tuệ của con người có một vẻ ǵ hư huyễn, khiến ta thông cảm hơn với lối nói hồn nhiên của hai câu đầu :“Đài Phượng, phượng hoàng đă ghé chơi, phượng đi đài vắng...”. Đó cũng là những chuyện “đương nhiên” như “núi là núi, sông là sông”, nhưng chẳng phải v́ thế mà tầm thường vậy.

            “Tam sơn bán lạc” là ảo giác, “nhị thủy trung phân” là thực tại. Nh́n lên là ảo, nh́n xuồng là thực. Cố sức nh́n th́ ảo, chẳng cố sức lại thực. Ảo thực, thực ảo, tri kiến của con người cứ quay tṛn trong đó...


CHỈ V̀ MỘT ĐÁM MÂY :

            Hai câu kết :

Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

            tóm thâu tất cả cái tuyệt vọng của kiếp người bé bỏng, mong manh, trước năng lực của định mệnh. “Tổng vị phù vân” là :“tất cả chỉ v́ một đám mây nổi”. Đám mây bồng bềnh, như làn khói, có cũng như không, nh́n th́ thấy, mà muốn nắm bắt lại chẳng được, khi chỗ này, lúc nơi khác, nổi trôi vô định, ngược hẳn lại với cái thực thể vô cùng “quan trọng” là mặt trời, đầy sức mạnh, đem lại năng lực cho muôn loài, và luôn theo một đường đi cố định, không bao giờ sai chuyển. Thế mà một đám mây nhỏ bồng bềnh, lại có khả năng che khuất mặt trời, làm cảnh vật mờ tối ! Cuộc sống con người có khác chi ? Những ǵ ta đă đem bao nghị lực và tài trí ra xây dựng : địa vị, sự nghiệp, tiền của, hạnh phúc gia đ́nh v.v...tưởng rằng kiên cố lắm, nhưng chỉ cần một biến cố nhỏ, như đám “phù vân” kia, là có thể sụp đổ như lâu đài trên cát. Cung Ngô, Triều Tấn, cũng vậy. Phải chăng Vua nào lên cũng được tuyên dương “vạn tuế”, triều đại nào cũng được tán tụng “muôn năm”, nhưng rốt cuộc rồi cũng đều quay về cát bụi, nhiều khi chỉ v́ một nguyên do vặt vănh ? Ngô thắng Tào nghe đâu chỉ v́ một ngọn gió ? Tấn diệt Thục, rồi diệt Ngô, phải chăng chỉ tại cơn đau bụng của Khương Duy ?

            Trong đời sống tâm linh cũng thế. Nhiều người tưởng ḿnh đă đạt đến một sự ổn định nội tâm cao độ, một nền tảng đạo đức không ǵ lay chuyển được, nhưng có biết đâu chỉ cần một thử thách nhỏ, nhưng trúng vào nhược điểm của họ, là họ có thể rơi vào những điều sai quấy, tội lỗi, ác độc ? Nếu một đám mây hư huyễn mà che được cả mặt trời th́ bất cứ nguyên do nhỏ nhặt nào cũng có thể đưa đến bất cứ chuyện ǵ.

            Câu chuyện đám mây che mặt trời, sau những suy tưởng đă được diễn bày trong các đoạn trước, khiến ta càng cảm nhận rơ ràng hơn sự bé bỏng khiêm nhường của kiếp sống con người.


TRƯỜNG AN BẤT KIẾN :

            Cung như Thôi Hiệu, Lư Bạch kết thúc bài thơ bằng ba chữ “sử nhân sầu” (khiến người buồn). Ở đây, người buồn v́ không thấy được Trường An, do đám mây nổi che khuất mặt trời. Thật ra, từ Kim Lăng làm sao nh́n được đến tận Trường An ? Đó chỉ là một biểu tượng. “Trường An bất kiến” đại diện cho tất cả những nỗi niềm ưu sầu của tác giả, đă được nói đến trong bài, từ chuyện đài Phượng với phượng hoàng, cho tới các suy nghĩ về “Ngô cung”, “Tấn đại”, thời gian trôi, ảo giác và thực tại, và nhất là ư tưởng “đám mây nổi che được mặt trời”. Cần chú ư câu :

                                        Tổng vị phù vân năng tế nhật

            phải được dịch là “Tất cả chỉ v́ đám mây nổi che được mặt trời”. Tức là tất cả những sự mong manh của số kiếp con người mà Lư tiên sinh đă ghi nhận trong sáu câu trên, đều chỉ tùy thuộc những nguyên nhân vụn vặt, như đám mây nổi kia, chứ không phải chỉ riêng sự kiện “Trường An bất kiến” mà thôi đâu !

            Nỗi buồn “Trường An bất kiến” rất “hiện sinh”. Đó chính là lo buồn cơ bản của cuộc sống (angoisse existentielle). Nó cho thấy một sự thiếu vắng ư nghĩa của đời người, một khoảng trống, mà Lư Bạch đă cố lấp đầy, không những bằng thơ văn, mà bằng cả rượu chè, trăng gió, mỹ nhân, bằng miệt mài truy hoan trong những cuộc chơi tuyệt vọng, những mong tiêu được “vạn cổ sầu” (dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu). Nhưng, sầu vẫn cứ sầu,  như lời tiên sinh :

Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu
Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu
(Hạ gươm chặt nước, nước vẫn chảy,
Nâng chén giải sầu, sầu vẫn sầu).

            Tương truyền ngày kia tiên sinh nh́n ánh trăng trong đáy nước, mà muốn ôm chầm lấy, để rồi lặng lẽ ĺa đời trong gịng nước lạnh...


TÓM LẠI :

            Người ta nói Lư Bạch làm bài này là thua Hoàng Hạc Lâu một bực. Tôi không nghĩ thế. Bài của Thôi Hiệu cho ta cảm giác khinh rẻ lầu Hoàng Hạc, và coi nhẹ cảnh vật chung quanh lầu này. Lư tiên sinh, ngược lại, cho ta cảm giác tội nghiệp Đài Phượng cô liêu, mỏi ṃn đợi chờ Phượng Hoàng ghé đến, và thương cho bao sinh linh đă vùi chôn tánh mạng cho cung Ngô, triều Tấn, cũng như bao người khác đă lăng phí cuộc đời ḿnh cho danh vọng, tiền tài, sự nghiệp v.v...Nếu ta thông cảm với nỗi buồn tưởng nhớ quê hương của Thôi Hiệu, th́ ta càng thông cảm hơn với nỗi buồn “hiện sinh” của Lư Bạch trước năm tháng hững hờ trôi, trước số phận mong manh của kiếp người. Khoảng trống trong cuộc sống mà Lư Bạch gợi lên, quả thực là một cảm giác rất “người”, mà ta khó mà không chia sẻ.

            Mặt khác, ư thức được khoảng trống ấy, chính là bước đầu để t́m cách lấp đầy nó. Thật vậy, kiếp người lẽ nào lại như những cung điện đền đài kia, chỉ hiện hữu để chờ thời gian soi ṃn, tiêu hủy ? Đâu là giá trị, là ư nghĩa của cái kiếp sống mong manh, phù du ấy ?

            Pascal từng nói đại ư rằng : con người chỉ là một cây sậy, một cây sậy biết suy tư, yếu đuối nhất trong thiên nhiên, chỉ cần một giọt nước, một ngọn gió, cũng có thể tiêu hủy được (Tổng vị phù vân năng tế nhật đấy !). Tuy nhiên, ngay cả khi toàn thể Vũ Trụ liên kết lại để hủy diệt con người, th́ con người sẽ vẫn mạnh hơn tất cả những ǵ có thể giết nó, v́ con người biết ḿnh chết, trong khi chính sự ưu thắng của Vũ Trụ trên con người, Vũ Trụ cũng chẳng hề biết đến, chẳng thể ư thức được.

            Thật vậy, chính nhờ ư thức mà con người có thể vươn lên. Chính nhờ ư thức mà con người hướng được đến Ư Thức Nguyên Thủy, nguồn của mọi sự, tiềm tàng trong tất cả, quy định tất cả. Thêm vào đó, nếu tin được rằng Ư Thức ấy là T́nh Yêu, và sống thực trong T́nh Yêu này, th́ những lo buồn của kiếp người có nhiều hy vọng sẽ hóa giải được vậy.

            Phúc cho những ai có một Niềm Tin, và sống thực Niềm Tin ấy...

NGUYỄN HOÀI VÂN
23 tháng 9 1994

Các bài liên hệ :       Hoàng Hạc Lâu

                                  Long Tŕ

 

Trở về Mục Lục