THU ĐIẾU

 

Bi Thu Điếu c tm cu như sau :

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền cu b tẻo teo
Sng nước theo ln hơi gợn t
L vng trước gi sẽ đưa vo
Từng my lơ lửng trời xanh ngắt
Ng trc quanh co khch vắng teo
Tựa gối m cần lu chẳng được
C đu đớp động dưới chn bo


        Hai cu đầu (cu khai) vẽ ln bối cảnh của ton bi. Sch Gia Ngữ ni: Thủy ch thanh tắc v ngư, nghĩa l nước trong veo th khng c c, thế m Nguyễn Khuyến, giữa trời thu lạnh lẽo, lại nh lc nước trong veo m ngồi thuyền đi cu, th thật l thất thế, l lm một việc kh khăn, ngược đời. Vậy, đặt tựa bi thơ l cu c ma thu, m mới vo đầu bi đ cho thấy ci việc cu c đ l chuyện gần như khng thể đạt được thnh quả, th chẳng phải l đ vạch r cho ta thấy ci tnh cảnh ngặt ngho rất mực của tc giả rồi đ sao ? Nh Nho Nguyễn Khuyến, đỗ đạt vo bậc nhất thời đ, lm quan to, nhưng trước cảnh nước mất, phải từ quan, về dạy học, nhn ngoại nhn honh hnh, vua quan bạc nhược, chỉ biết theo Php cầu an, đ thấy r l ci hoi bo gip dn gip nước của mnh, thật kh khăn, gần như v vọng, chẳng khc no cảnh cu c nước trong được đề ra ngay từ cu đầu vậy.

        Cu hai một chiếc thuyền cu b tẻo teo, tựu trung chỉ lm r thm ci của cu đầu. Thuyền trong ao th đu phải thuyền b tẻo teo đối với ao ? Thuyền b tẻo teo đối với mặt hồ rộng lớn, đối với biển cả mnh mng, th cn c l, chứ ci ao tự n đ b, thuyền đối với ao th c chi m phải bảo l b tẻo teo ? Vậy, thuyền đy chnh l ci thn phận của Nguyễn Khuyến, v chiếc thuyền ấy thật l b tẻo teo đối với cảnh vật, Đất Trời, bao la, cũng như thn phận của tc giả be tẻo teo đối với ci thời thế thin nan vạn nan phủ trm ln ng vậy.

        Hai cu ba v bốn, cn được gọi l cu thừa (thơ Đường Luật gồm 2 cu khai, 2 cu thừa, 2 cu chuyển v 2 cu hợp, hay thu). Hai cu thừa ny thừa theo ci bối cảnh kh khăn vừa được phc họa trong hai cu đầu, m đưa ra hai thi độ xử thế trước bối cảnh ấy :

        Sng nước theo ln hơi gợn t tả cảnh mặt nước gợn sng theo ln gi thổi. Nhưng, mặc d gợn sng, trong chiều su, nước vẫn l nước, ao vẫn l ao, khng hề lay động, khng hề suy suyển. Đ chnh l thi độ của bản thn mnh m tc giả muốn được người đời thng cảm : trước thời thế kh khăn, ng đ phải từ quan, đ phải ngồi yn, thậm ch c lc đ phải vo dạy học trong Dinh của ng quan thn Php Hong Cao Khải, nhưng, những điều đ chẳng qua chỉ l những gợn sng, theo ln gi thổi m thi, chứ trong thm tm, trong chiều su, ng vẫn l ng, vẫn giữ vững ho kh của người qun tử, vẫn mang nặng lng trung thnh với tổ quốc.

        Ngược lại,

        L vng trước gi sẽ đưa vo

l một thi độ m Nguyễn Khuyến chối bỏ. Thật vậy, tuy cng phản ứng trước ln gi thổi, nhưng nếu gợn sng chỉ l một hiện tượng bề mặt, trong khi căn bản vẫn y nguyn, th l vng hon ton ngược lại. L vng đ bị bứt khỏi cnh cy. N chỉ cn biết phất phơ theo gi thổi, gi đưa về đu th n về đ, để rồi rốt cuộc sẽ mục nt trn mặt đất. Từ khi la khỏi cnh cy, đưa vo theo gi, l vng đ khng cn l một thnh phần của cy nữa, khc với sng nước, lc no cũng vẫn l nước, l thnh phần của ao, của hồ, của sng, của biển. Vậy, hai cu ba, bốn, l lời tự bạch của tc giả : ta l sng, gợn theo gi, nhưng lng trung với nước vẫn khng hề suy suyển, chứ chẳng phải như l vng kia, la căn bỏ cội, phải chịu hon ton lệ thuộc ngọn gi, để rồi mục nt trn mặt đất ma thu...

        Cu năm v cu su :

        Từng my lơ lửng trời xanh ngt
        Ng trc quanh co khch vắng teo

tức hai cu chuyển, được dng để đưa ci tm trạng vừa biện bạch ở trn vo trong bối cảnh tm l chung của người thời đ. Ở trn ni đến gi, đến l vng l trnh by tm trạng ring tư của tc giả đối với những p buộc của thời thế. Cn hai cu năm v su th cho biết tm trạng v thi độ của những người khc đối với tm trạng của tc giả. Tại sao giữa mun ngn vạn triệu cảnh vật ma thu m Nguyễn Khuyến lại chọn ni đến từng my lơ lửng trời xanh ngắt, với ng trc quanh co khch vắng teo, nếu khng phải chỉ để nu ln nỗi niềm c đơn của mnh, trước sự thờ ơ, nhạt nhẽo, hay rẻ khinh, chế diễu của kẻ đương thời ? (xem ng phỗng đ") i, trời xanh ngt, chỉ c một từng my lơ lửng, c đon, chẳng biết cng ai chia sẻ ci nhn thế sự. Rồi ng trc kia , nhn m xem, n cũng vắng teo, chẳng một ai thm mang đến ci hoi bo của người Nho Sĩ nhiệt tm nhưng thất thế. Cu chuyện cu c nước trong, cu chuyện sng nước với l vng, ni ra m lm chi, mấy ai hiểu, mấy kẻ cảm thng ? Tả cảnh, nhưng trong cảnh l tnh, chỉ biết c cảnh m bỏ mặc tnh th c phải l tội cho nh thơ lắm lắm hay khng ?

        Trong hai cu cht cn được gọi l thu, hạy hợp, thật ra chỉ c cu thứ 7

        Tựa gối m cần lu chẳng được

l thực sự thu tm tnh cảnh của ton bi m thi. Ton thể su cu trn kết tụ trong sự đợi chờ tựa gối m cần của người cu c, như Nguyễn Khuyến đ c lần tm tnh trong Tự Thọ :

        Cũng muốn sống thm dăm tuổi nữa
        Thử xem Trời mi thế ny ư ?

        Ta nhận xt : ng khng ni đời, m ni Trời, ci đ r. Sự thay đổi sẽ đến từ Trời, v từ điều m nh Nho nghĩ l tượng trưng cho luật Trời, tức từ ci Thời. V thế, đợi ở đy l đợi thời, đợi Thin Thời. Hệ Từ của Dịch Kinh c ni :Qun Tử đi thời nhi động (người qun tử đợi thời m hnh động). Thật vậy, c thời để hnh động, nhưng cũng c thời phải ngồi yn, như mấy cu trch trong bi thơ của một tn thi sĩ c chớn :

        Tử Nha rung gối chờ cu động
        Ph Đổng vươn vai tỏ ch cao
        Tắc Hạ quy về n cố sử
        Lam Sơn xuất trướng dựng tn tro

(Tắc Hạ l nơi rất nhiều học sĩ thời Chiến Quốc quy tụ về học hỏi trao đổi)

        Vậy, chờ đợi l một cung cch xử thế của nh Nho, v l một thi độ tch cực, c thể phần no v như sự đợi chờ của người cu c, lc no cũng sẵn sng ứng biến. Khng chừng khi vẽ ln cảnh đợi chờ ny, Nguyễn Khuyến đ nghĩ đến một ng cu lừng danh ở thời Cổ, l Khương Tử Nha, cu c đợi thời đến rất gi (80 tuổi ?) mới ra ti gip sức lập nn nh Chu ?

        Cu cuối :

        C đu đớp động dưới chn bo

đem tất cả những tnh cảnh của ton bi vừa được gồm thu trong cu

        Tựa gối m cần lu chẳng được

m đặt vo trong một niềm tin, niềm tin nơi chnh nghĩa, để đưa người đọc đến một kết luận đầy hy vọng. Đ l: d cho thời thế kh khăn, d cho người đơi thờ ơ, d cho đ chờ lu chẳng được, nhưng, thoang thoảng đu đy nghe như c tiếng c đớp động dưới chn bo, tựa hồ như c dấu hiệu g của thời cuộc chuyển biến...Hai cu đầu nu ln một thực tế khch quan, trong khi hai cu cuối đưa đến một niềm tin chủ quan, v trong khi ta đang thấm dần vo ci khung cảnh gẩn như khng c lối thot của bi thơ, th tc giả đ đột ngột kết thc bằng một cu cuối đậm mu hy vọng, phủ trn ln những bi quan của cc cu trước. Bi thơ như một vở kịch, đang bế tắc th thnh lnh một ci g bất ngờ xảy đến giải quyết tất cả. Thật kho. V cũng thật bổ ch cho những ai đồng cảnh ngộ...

        Trong khủng hoảng, điều ta khng cn hy vọng lun xay đến
        (Edgar Morin).

                                                                                                            NGUYỄN HOI VN
                                                                                                             27/3/1994

Trở về Mục Lục